15 thg 5, 2015

Nỗi buồn An Lăng


Khách du lịch đến Huế, ai cũng muốn thăm các di tích triều đại nhà Nguyễn mà ngoài hoàng thành xưa là các lăng tẩm các vị vua, chúa Nguyễn. Nhưng có lẽ ít ai có dịp viếng An lăng - hiện nay là nơi an nghỉ của ba vị vua: Dục Đức, Thành Thái và Duy Tân. Đây là khu lăng mộ có kiến trúc đơn giản nhất của các vua nhà Nguyễn nhưng mang nặng câu chuyện đau thương của cả ba ông hoàng trong giai đoạn lịch sử chính trị rối ren nhất của vương triều nhà Nguyễn.

Vòng xoay lịch sử

Sau khi vua Tự Đức băng hà, triều thần đã đưa Ưng Chân - con trai của Thoại Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Y và là con nuôi của vua Tự Đức - lên ngôi (1883) theo di chiếu. Vị vua thứ 5 của nhà Nguyễn chưa kịp đặt niên hiệu đã bị truất ngôi, tống giam vào ngục thất sau ba ngày làm vua; sau đó bị bỏ đói mà chết. Nhà vua chưa có niên hiệu nên sử sách ghi lại theo tên tư thất của ông là Dục Đức Đường.


Thi hài vị vua xấu số được bó chiếu (không có áo quan) cho lính gánh đi chôn trong khu đất của chùa Tường Quang ở thôn Tây Nhất, làng An Cựu; nhưng còn cách 200 mét mới đến chùa thì thi hài nhà vua bị rớt giữa đường do đứt dây.

Cho rằng đó là “ý trời”, nhà sư trụ trì chùa Tường Quang cho đào huyệt tại chỗ để mai táng, không đưa vào trong khu đất của chùa nữa. Ba ngày sau, vợ con của Dục Đức mới được làm lễ chịu tang.

Sáu năm sau, con trai của Dục Đức là Bửu Lân được đưa lên làm vua, lấy niên hiệu là Thành Thái (1889-1907) Đầu năm 1890, Thành Thái cho xây lăng mộ vua cha ngay trên nấm mồ tạm bợ đó. An Lăng được xây nhưng chưa có điện thờ. Mọi lễ nghi đều cử hành trong chùa Tường Quang (Năm 1892, chùa được vua Thành Thái ban sắc, đổi tên là chùa Kim Quang).

Vào năm Thành Thái thứ 11 (1899), nhà vua cho xây dựng điện Long Ân làm nơi thờ cúng và các công trình phụ như Tả, Hữu Phối Đường (trước); Tả, Hữu Tùng Viện làm nơi ở cho bảy bà vợ thứ của vua cha, lo việc thờ phụng hương khói. Về sau, khi bà Từ Minh, vợ chính của vua Dục Đức tạ thế, triều đình mai táng thi hài của bà bên phải mộ vua.

Làm vua được 18 năm (1889-1907), Thành Thái lại bị truất ngôi do có tư tưởng và hành động chống Pháp. Con trai vua Thành Thái là hoàng tử Vĩnh San được đưa lên ngai vàng, đặt niên hiệu Duy Tân. Trị vì được 8 năm (1907-1916) vua Duy Tân bị Pháp bắt vì “tham gia vào cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Thái Phiên và Trần Cao Vân”. Cả hai cha con Thành Thái và Duy Tân đều lãnh án lưu đày biệt xứ, bị đưa sang đảo Réunion.

Năm 1953, cựu hoàng Thành Thái được về nước, một năm sau thì mất tại Sài Gòn; thi hài được hoàng tộc rước về chôn trong khuôn viên của lăng Dục Đức. Cựu hoàng Duy Tân chết năm 1945 trong một tai nạn máy bay ở Trung Phi, thi hài của ông được chôn cất ở đó cho đến năm 1987, được cải táng đưa về chôn cạnh mộ vua cha Thành Thái. Hiện giờ, An Lăng là khu mộ chung của ba thế hệ vua nhà Nguyễn: Dục Đức (cha), Thành Thái (con) và Duy Tân (cháu).

Tam quan vào Bửu thành, tuy có bị thời gian bào mòn và phần mái bị vỡ đôi chút nhưng nhìn chung còn khá đẹp.

So với lăng tẩm khác của các vua nhà Nguyễn, An lăng có kiến trúc đơn giản và khiêm tốn hơn nhiều. Khu vực lăng mộ hình chữ nhật, bên trong không có Bi Đình và tượng đá như các lăng vua khác. Muốn vào lăng phải đi qua hai tam quan, có mái giả bằng xi măng. Chính giữa Bửu Thành có một nhà Huỳnh Ốc dạng phương đình, thay thế cho nhà bia. Bên trong nhà Huỳnh Ốc không có bi ký, thay vào đó là một sập đá và kỷ đá dùng để bày hương án và hào soạn mỗi khi cúng giỗ nhà vua. Hai bên tả, hữu là mộ vua Dục Đức và hoàng hậu Từ Minh.

Điện Long Ân ở trung tâm khu vực tẩm, hiện có ba hương án thờ bài vị của vua Dục Đức và vợ (ở giữa), Thành Thái (bên trái) và Duy Tân (bên phải). Phía sau điện Long Ân ngày xưa là chốn hậu cung của các bà vợ vua, giờ đây được mở rộng và chỉnh trang. Đó cũng là nơi yên nghỉ của hai ông vua Thành Thái và Duy Tân.

Di tích bị lãng quên

Chính giữa Bửu thành là nhà Huỳnh Ốc đã xuống cấp nghiêm trọng. Thay vì có bia đá, giữa nhà chỉ có cái bệ đá dùng bày lễ vật khi cúng tế.

Các tài liệu về di sản cố đô có ghi chép khá đầy đủ về An lăng; kể cả trên các trang mạng về du lịch Huế cũng có bài giới thiệu, tuy chỉ sơ sài. Nhưng trong các chương trình tour thì hầu như không có An lăng dù di tích này nằm ngay trong lòng thành phố Huế. Thật quá bất ngờ và thấy chút bất nhẫn khi chúng tôi tìm đến viếng An lăng ở ngay phường An Cựu, cách trung tâm cố đô chỉ 2 cây số.

Dừng xe bên đường phố, hỏi thăm hai cô gái trẻ có dáng vẻ sinh viên, cả hai cô không hiểu tôi muốn hỏi gì! Một cô bán hàng gần đó khăng khăng nói rằng tôi hỏi... nhầm, vì chỉ có lăng Tự Đức chứ làm gì có lăng Dục Đức (?!).

Hỏi một ông có tuổi, sau thoáng ngập ngừng ông ta cũng chỉ đường xuôi theo hướng đang chạy đến ngã ba, rẽ phải. Chạy một lúc nhận ra là sắp đến đàn Nam Giao, nếu rẽ phải là đi lăng Tự Đức. Quay lại, hỏi một o bán gánh trên đường, lần này tôi nói thêm, đó là nơi vua Duy Tân được đưa về an táng. O bảo có nghe nói, hình như gần chùa Từ Đàm. Chạy đến gần chùa mới biết là không phải. Lúc này đã mang máng nhận ra con đường gần đấy nhưng vẫn không chắc nên hỏi thăm một mệ đi chợ. Cực kỳ ngạc nhiên khi nghe mệ nói chưa bao giờ nghe đến lăng Dục Đức, còn chỗ an táng hài cốt vua Duy Tân thì có nghe nhưng không biết chỗ. Hỏi thăm mấy người dân ở nhà mặt tiền đường cũng không ai biết. Mãi mới gặp một bác xe ôm vui vẻ chỉ đường.

Chẳng bận tâm chuyện vua Dục Đức đã mắc tội gì, việc phế bỏ vua có phải lẽ hay không, chúng tôi viếng An lăng với tâm trạng nặng nề, thương cảm. Một vị vua đã bị trừng phạt quá tàn nhẫn bởi người xưa rồi đến nay đã hơn trăm năm trôi qua, người đương thời vẫn thờ ơ, thậm chí phân biệt đối xử với khu di tích trong một quần thể di sản văn hóa, lịch sử được quảng bá như là niềm tự hào về việc bảo tồn và khai thác kinh doanh du lịch rầm rộ ở đất thần kinh.

Lúc ra về, người trông giữ An Lăng nhắn nhủ chúng tôi, khi nào có dịp ra Huế hãy ghé lại thắp nén hương cho đỡ tủi lạnh hương hồn nhà vua xấu số và hai vị vua nặng lòng yêu nước mà bị lưu đày là Thành Thái và Duy Tân.


Mộ vua và hoàng hậu nằm hai bên Huỳnh Ốc. Kiến trúc hai ngôi mộ giống nhau, có hình kim tự tháp đỉnh bằng với 5 tầng (nhiều hơn một tầng so với mộ vua Thành Thái và vua Duy Tân). Phía trước hai ngôi mộ là hai bức bình phong còn nguyên vẹn. Cả hai mộ bằng đá không bị ảnh hưởng gì nhiều bởi thời gian.

Bài và ảnh: Phạm Hồng Sơn