Những ngày đầu mùa hè, vùng biển xã Đông Sơn (Quảng Ngãi) trở nên nhộn nhịp khi người dân địa phương bước vào mùa khai thác rong mơ tạo nguồn thu nhập đáng kể, đồng thời mở ra hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên.
Nhãn
- Con người - Sự kiện
- Cảm nhận
- Du ký - Suy ngẫm
- Lịch sử - Giai thoại
- Văn hóa
- Điểm đến
- Địa lý - Địa danh
- Ẩm thực
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du ký - Suy ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du ký - Suy ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng
31 thg 5, 2026
Mùa 'lộc biển' trên bãi đá núi lửa triệu năm ở Quảng Ngãi
Xã Đông Sơn (Quảng Ngãi) đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch biển gắn với bảo tồn hệ sinh thái rong mơ. Hướng đi này không chỉ tạo sinh kế bền vững mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế biển địa phương.
Những ngày đầu mùa hè, vùng biển xã Đông Sơn (Quảng Ngãi) trở nên nhộn nhịp khi người dân địa phương bước vào mùa khai thác rong mơ tạo nguồn thu nhập đáng kể, đồng thời mở ra hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên.
Những ngày đầu mùa hè, vùng biển xã Đông Sơn (Quảng Ngãi) trở nên nhộn nhịp khi người dân địa phương bước vào mùa khai thác rong mơ tạo nguồn thu nhập đáng kể, đồng thời mở ra hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên.
30 thg 5, 2026
Phụ nữ Bru Vân Kiều làm du lịch bên suối A Lao
Không còn bó mình trong nương rẫy, phụ nữ Bru Vân Kiều ở Tà Lao, xã Đăk Rông, Quảng Trị đang chủ động làm du lịch cộng đồng, tạo thu nhập ổn định, từng bước làm thay đổi diện mạo vùng cao.
Từ gian bếp, nương rẫy bước ra làm du lịch
Ở thôn Tà Lao, xã Đăk Rông, cuộc sống của nhiều phụ nữ Bru Vân Kiều trước đây gắn liền với nương rẫy và căn bếp nhỏ. Những quan niệm cũ khiến không ít người chấp nhận một vòng lặp quen thuộc: Lập gia đình, sinh con, làm nương rẫy, chăn nuôi quanh quẩn trong bản.
Nhưng những năm gần đây, sự thay đổi đã dần hiện rõ. Phụ nữ trong bản không chỉ tham gia các phong trào xã hội, mà còn mạnh dạn tìm hướng phát triển kinh tế mới, từng bước khẳng định vai trò trong gia đình và cộng đồng.
Chị Hồ Thị Ngam - Chi hội trưởng Phụ nữ thôn Tà Lao, là một trong những người tiên phong. Trong lúc tất bật chuẩn bị món ăn phục vụ khách tại suối A Lao, chị vẫn niềm nở trò chuyện về hành trình thay đổi của mình. Từ một người quen với công việc lên rẫy, chị nay đảm nhận vai trò Tổ trưởng Tổ hợp tác du lịch cộng đồng.
“Trước kia chỉ biết trông vào lúa, ngô. Giờ có khách du lịch, chị em có thêm thu nhập từ nấu ăn, hướng dẫn trải nghiệm, bán nông sản”, chị Ngam chia sẻ.
Theo chị Ngam, thay đổi đến từ các chính sách hỗ trợ thiết thực và sự vào cuộc sát sao của Hội phụ nữ. Chị em được tập huấn, được đi học hỏi mô hình, được hướng dẫn cách làm kinh tế. Từ chỗ e dè, nhiều người dần tự tin hơn, mạnh dạn bước ra khỏi nếp nghĩ, cách làm cũ.
Từ định hướng đó, ý tưởng làm du lịch suối A Lao được hình thành. Hội Phụ nữ xã đứng ra vận động, thành lập tổ hợp tác với nòng cốt là phụ nữ địa phương. Những ngày đầu rất đơn sơ. Chỉ vài món ăn, vài điểm dừng chân tạm.
Làm dần, học dần, mô hình từng bước hoàn thiện. Người nấu ăn, người đón khách, người hướng dẫn. Mỗi người một việc.
Giờ đây, suối A Lao không chỉ để tắm suối, nghỉ ngơi. Du khách còn được ăn món truyền thống, mặc trang phục của dân tộc Bru Vân Kiều, nghe kể chuyện bản làng. Chính sự mộc mạc, chân thật ấy lại giữ chân du khách.
Gây dựng sinh kế bền vững từ du lịch cộng đồng
Suối A Lao với làn nước trong xanh, cảnh quan hoang sơ, là lợi thế lớn để phát triển du lịch. Tận dụng điều này, Tổ hợp tác Du lịch cộng đồng đã từng bước hoàn thiện dịch vụ, từ ăn uống đến trải nghiệm.
Các món ăn đều sử dụng nguyên liệu địa phương như gà nuôi thả, cá suối, rau rừng, bảo đảm an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, chị em còn bán thêm nông sản, sản vật đặc trưng và hướng dẫn du khách mặc trang phục truyền thống để chụp ảnh.
Không chỉ dừng ở phục vụ trực tiếp, các thành viên còn tận dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo, TikTok để quảng bá điểm đến, bán hàng và kết nối khách. Nhờ đó, lượng khách đến suối A Lao ngày càng tăng.
Tuy nhiên, hành trình này không ít khó khăn. Cuối năm 2025, mưa lũ lớn đã cuốn trôi nhiều hạng mục tại khu du lịch. Bước sang năm 2026, các thành viên phải bắt tay làm lại gần như từ đầu. “Chúng tôi tự sửa đường, dựng lại cầu, phát quang cây cối. Mỗi người góp một ít công sức để kịp đón khách trở lại”, chị Ngam nói.
Hiện, Tổ hợp tác có gần 20 thành viên, chủ yếu là phụ nữ, với thu nhập ổn định từ 7 - 10 triệu đồng/người/tháng. Con số này không chỉ cải thiện đời sống mà còn tạo động lực để nhiều người khác tham gia.
Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đăk Rông, mô hình suối A Lao cho thấy, phụ nữ Bru Vân Kiều hoàn toàn có thể làm du lịch, làm chủ sinh kế khi được trao cơ hội. Quan trọng hơn, họ đang trở thành những hạt nhân lan tỏa, góp phần thay đổi nhận thức trong cộng đồng.
Không chỉ mang lại thu nhập, mô hình còn góp phần giữ gìn văn hóa, nâng cao vị thế phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng đồng bào DTTS.
Chị Hồ Thị Ngam là Chi hội trưởng Phụ nữ và Tổ trưởng Tổ hợp tác Dịch vụ du lịch suối A Lao.
Từ gian bếp, nương rẫy bước ra làm du lịch
Ở thôn Tà Lao, xã Đăk Rông, cuộc sống của nhiều phụ nữ Bru Vân Kiều trước đây gắn liền với nương rẫy và căn bếp nhỏ. Những quan niệm cũ khiến không ít người chấp nhận một vòng lặp quen thuộc: Lập gia đình, sinh con, làm nương rẫy, chăn nuôi quanh quẩn trong bản.
Nhưng những năm gần đây, sự thay đổi đã dần hiện rõ. Phụ nữ trong bản không chỉ tham gia các phong trào xã hội, mà còn mạnh dạn tìm hướng phát triển kinh tế mới, từng bước khẳng định vai trò trong gia đình và cộng đồng.
Chị Hồ Thị Ngam - Chi hội trưởng Phụ nữ thôn Tà Lao, là một trong những người tiên phong. Trong lúc tất bật chuẩn bị món ăn phục vụ khách tại suối A Lao, chị vẫn niềm nở trò chuyện về hành trình thay đổi của mình. Từ một người quen với công việc lên rẫy, chị nay đảm nhận vai trò Tổ trưởng Tổ hợp tác du lịch cộng đồng.
“Trước kia chỉ biết trông vào lúa, ngô. Giờ có khách du lịch, chị em có thêm thu nhập từ nấu ăn, hướng dẫn trải nghiệm, bán nông sản”, chị Ngam chia sẻ.
Theo chị Ngam, thay đổi đến từ các chính sách hỗ trợ thiết thực và sự vào cuộc sát sao của Hội phụ nữ. Chị em được tập huấn, được đi học hỏi mô hình, được hướng dẫn cách làm kinh tế. Từ chỗ e dè, nhiều người dần tự tin hơn, mạnh dạn bước ra khỏi nếp nghĩ, cách làm cũ.
Từ định hướng đó, ý tưởng làm du lịch suối A Lao được hình thành. Hội Phụ nữ xã đứng ra vận động, thành lập tổ hợp tác với nòng cốt là phụ nữ địa phương. Những ngày đầu rất đơn sơ. Chỉ vài món ăn, vài điểm dừng chân tạm.
Làm dần, học dần, mô hình từng bước hoàn thiện. Người nấu ăn, người đón khách, người hướng dẫn. Mỗi người một việc.
Giờ đây, suối A Lao không chỉ để tắm suối, nghỉ ngơi. Du khách còn được ăn món truyền thống, mặc trang phục của dân tộc Bru Vân Kiều, nghe kể chuyện bản làng. Chính sự mộc mạc, chân thật ấy lại giữ chân du khách.
Gây dựng sinh kế bền vững từ du lịch cộng đồng
Suối A Lao với làn nước trong xanh, cảnh quan hoang sơ, là lợi thế lớn để phát triển du lịch. Tận dụng điều này, Tổ hợp tác Du lịch cộng đồng đã từng bước hoàn thiện dịch vụ, từ ăn uống đến trải nghiệm.
Các món ăn đều sử dụng nguyên liệu địa phương như gà nuôi thả, cá suối, rau rừng, bảo đảm an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, chị em còn bán thêm nông sản, sản vật đặc trưng và hướng dẫn du khách mặc trang phục truyền thống để chụp ảnh.
Không chỉ dừng ở phục vụ trực tiếp, các thành viên còn tận dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo, TikTok để quảng bá điểm đến, bán hàng và kết nối khách. Nhờ đó, lượng khách đến suối A Lao ngày càng tăng.
Tuy nhiên, hành trình này không ít khó khăn. Cuối năm 2025, mưa lũ lớn đã cuốn trôi nhiều hạng mục tại khu du lịch. Bước sang năm 2026, các thành viên phải bắt tay làm lại gần như từ đầu. “Chúng tôi tự sửa đường, dựng lại cầu, phát quang cây cối. Mỗi người góp một ít công sức để kịp đón khách trở lại”, chị Ngam nói.
Hiện, Tổ hợp tác có gần 20 thành viên, chủ yếu là phụ nữ, với thu nhập ổn định từ 7 - 10 triệu đồng/người/tháng. Con số này không chỉ cải thiện đời sống mà còn tạo động lực để nhiều người khác tham gia.
Tổ hợp tác Du lịch cộng đồng suối A Lao đã tạo việc làm ổn định cho 20 phụ nữ với thu nhập ổn định từ 7 - 10 triệu đồng/tháng/người.
Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đăk Rông, mô hình suối A Lao cho thấy, phụ nữ Bru Vân Kiều hoàn toàn có thể làm du lịch, làm chủ sinh kế khi được trao cơ hội. Quan trọng hơn, họ đang trở thành những hạt nhân lan tỏa, góp phần thay đổi nhận thức trong cộng đồng.
Không chỉ mang lại thu nhập, mô hình còn góp phần giữ gìn văn hóa, nâng cao vị thế phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới ở vùng đồng bào DTTS.
Minh Ngọc
29 thg 5, 2026
Giữ nhà trình tường - Giữ ký ức và niềm tự hào văn hóa dân tộc
Với đồng bào Mông ở miền núi xứ Thanh, những ngôi nhà trình tường không chỉ là nơi ở, mà còn là biểu tượng văn hóa đặc sắc.
Phố cổ Đồng Văn: Nhịp sống chậm đủ "níu chân" du khách
Giữa mênh mông Cao nguyên đá, phố cổ Đồng Văn hiện lên với mái ngói phủ rêu, tường vàng cũ kỹ. Nhịp sống chậm nơi đây đủ níu chân nhiều du khách quay lại.
28 thg 5, 2026
Mạch Mường trên cao nguyên Đắk Lắk
Sau nhiều năm lập nghiệp trên cao nguyên Đắk Lắk, cộng đồng người Mường vẫn bền bỉ giữ tiếng chiêng, Mo Mường và nếp văn hóa quê nhà qua nhiều thế hệ.
Tiếng chiêng "gọi" quê hương trên đất cao nguyên
Mỗi dịp lễ hội ở phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk, tiếng chiêng Mường, lại vang lên rộn rã. Âm thanh ấy không chỉ tạo nên không khí tưng bừng ngày hội mà còn gợi nhớ về quê hương.
Mỗi dịp lễ hội ở phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk, tiếng chiêng Mường, lại vang lên rộn rã. Âm thanh ấy không chỉ tạo nên không khí tưng bừng ngày hội mà còn gợi nhớ về quê hương.
27 thg 5, 2026
Những ngôi nhà cổ ở xã Cẩm Giang
Giữa nhịp sống hiện đại, những ngôi nhà cổ ở xã Cẩm Giang (Hải Phòng) vẫn lặng lẽ tồn tại như dấu ấn của thời gian.
25 thg 5, 2026
Hùng vĩ cánh cung Ngân Sơn
Là một trong bốn cánh cung lớn nhất tại vùng Đông Bắc Việt Nam, cánh cung Ngân Sơn dài khoảng 100 km, bắt đầu từ Năm Quét (Cao Bằng) đến Lang Hít (Thái Nguyên). Dãy núi này đóng vai trò ranh giới khí hậu, nổi tiếng với đỉnh Phja Oắc hùng vĩ (cao 1.931 m so với mặt nước biển), khí hậu mát mẻ và nhiều hang động, đồi cỏ mượt như nhung, được nhiều du khách ưa thích khám phá thiên nhiên tìm đến.
23 thg 5, 2026
Chim về giữa không gian xanh Hồ Gươm
Một cá thể chim vạc đậu trên tán cây xanh tại khu vực hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN
22 thg 5, 2026
Những nghề xưa hồi sinh bên hồ Lắk
Người Mnông bên hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk vẫn lặng lẽ giữ nghề truyền thống. Từ khung cửi, men rượu cần đến gốm đen, mỗi sản phẩm chứa đựng hồn cốt văn hóa gắn với du lịch cộng đồng.
21 thg 5, 2026
Tàu du lịch Đà Lạt: Bảo tồn di sản gắn với phát triển
Ga Đà Lạt (phường Xuân Hương – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) nằm ở độ cao hơn 1.500 m so với mực nước biển, được xem là một trong những nhà ga cổ đẹp nhất Việt Nam và khu vực Đông Dương.
Không chỉ mang giá trị lịch sử, kiến trúc độc đáo, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trải nghiệm hành trình tàu du lịch Đà Lạt – Trại Mát giữa không gian cao nguyên thơ mộng.
Bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch
Ga Đà Lạt được người Pháp khởi công xây dựng năm 1932 và hoàn thành vào năm 1938, là ga đầu mối của tuyến đường sắt Phan Rang – Đà Lạt dài khoảng 84 km. Trên toàn tuyến có khoảng 16 km sử dụng hệ thống đường ray răng cưa để vượt đèo Ngoạn Mục với độ dốc trung bình 12%. Thời điểm đó, công nghệ đường sắt răng cưa chỉ xuất hiện tại Thụy Sĩ và Việt Nam, trở thành dấu ấn kỹ thuật đặc biệt của ngành đường sắt thế giới.
Không chỉ mang giá trị lịch sử, kiến trúc độc đáo, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trải nghiệm hành trình tàu du lịch Đà Lạt – Trại Mát giữa không gian cao nguyên thơ mộng.
Bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch
Ga Đà Lạt được người Pháp khởi công xây dựng năm 1932 và hoàn thành vào năm 1938, là ga đầu mối của tuyến đường sắt Phan Rang – Đà Lạt dài khoảng 84 km. Trên toàn tuyến có khoảng 16 km sử dụng hệ thống đường ray răng cưa để vượt đèo Ngoạn Mục với độ dốc trung bình 12%. Thời điểm đó, công nghệ đường sắt răng cưa chỉ xuất hiện tại Thụy Sĩ và Việt Nam, trở thành dấu ấn kỹ thuật đặc biệt của ngành đường sắt thế giới.
Khám phá vẻ đẹp mê hoặc của những loài chim hoang dã ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
Vườn quốc gia Cát Tiên được ví như “đất nước thu nhỏ” của loài chim rừng, bởi nơi đây chiếm hơn 40% tổng loài chim của Việt Nam.
Vườn quốc gia Cát Tiên có tổng diện tích hơn 71.000 ha và được đánh giá cao về tính đa dạng sinh học. Nơi đây cũng được mệnh danh là “ngôi nhà của muôn thú” với 96 loài thú, 94 loài bò sát và 903 côn trùng. Đối với hệ chim, Vườn quốc gia Cát Tiên có 343 loài chim, chiếm hơn 40% tổng loài chim của Việt Nam.
Là rừng đất thấp ẩm ướt nhiệt đới, Vườn quốc gia được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Vườn quốc gia Cát Tiên có tổng diện tích hơn 71.000 ha và được đánh giá cao về tính đa dạng sinh học. Nơi đây cũng được mệnh danh là “ngôi nhà của muôn thú” với 96 loài thú, 94 loài bò sát và 903 côn trùng. Đối với hệ chim, Vườn quốc gia Cát Tiên có 343 loài chim, chiếm hơn 40% tổng loài chim của Việt Nam.
Là rừng đất thấp ẩm ướt nhiệt đới, Vườn quốc gia được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.
20 thg 5, 2026
Cù lao Phố, miền đất di sản trong hành trình mở cõi phương Nam
Cù lao Phố (cù lao Hiệp Hòa), phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai là địa danh gắn liền với hành trình mở cõi đất phương Nam của dân tộc. Trên vùng đất này hiện vẫn còn hàng chục di tích lịch sử, văn hóa gắn liền với chiều dài lịch sử gần 330 năm hình thành và phát triển của Đồng Nai.
Tượng Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh trong khuôn viên Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược vùng đất phương Nam, lập dinh Trấn Biên, đặt nền móng cho quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai ngày nay. Sự kiện Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập dinh Trấn Biên được xem là dấu mốc lịch sử quan trọng trong tiến trình xác lập chủ quyền và tổ chức quản lý hành chính của Nhà nước phong kiến Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ.
Tại cù lao Phố hiện nay có đến 11 ngôi đình, 6 ngôi chùa, 1 thánh thất cùng nhiều tịnh xá và miếu, mộ cổ. Trong số đó, 3 công trình đã được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, gồm: Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Đại Giác cổ tự và chùa Ông. Mỗi công trình văn hóa tại đây đều gắn liền với những câu chuyện và sự kiện được truyền qua nhiều thế hệ.
Cũng trên cù lao Phố, Đại Giác cổ tự (chùa Đại Giác) là một trong những ngôi chùa cổ nhất Nam Bộ xưa, được xây dựng từ năm 1665. Với lịch sử khai sơn khá sớm, chùa Đại Giác là một trong những di tích lịch sử minh chứng cho quá trình phát triển của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.
Toàn cảnh khuôn viên Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh tại cù lao Phố là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Thành phố Đồng Nai (trước đây là tỉnh Đồng Nai) luôn quan tâm tôn tạo, đầu tư nâng cấp Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.
Chùa Ông tại cù lao Phố là ngôi chùa của người Hoa đầu tiên ở xứ Nam Bộ, được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1989.
Người dân tham gia Lễ hội Chùa Ông. Lễ hội được tổ chức thường niên từ ngày 9 đến 13 tháng Giêng và được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2023.
Phạm Tùng
Rực sắc địa lan giữa đại ngàn
Mùa này, làng Vi Rơ Ngheo, xã Măng Đen, như được dệt nên bởi muôn sắc hoa địa lan nở rộ, tạo thành bức tranh rực rỡ giữa đại ngàn. Không chỉ làm nên vẻ đẹp đặc trưng, địa lan còn góp phần tạo sức hút riêng cho làng du lịch cộng đồng nơi đây.
Nằm ở độ cao hơn 1.000 m, làng Vi Rơ Ngheo hiện lên như một “lòng chảo xanh” bình yên giữa đại ngàn. Làng có 63 hộ dân, với khoảng 300 nhân khẩu, phần lớn là đồng bào Xơ Đăng.
Những mái nhà trong làng quần tụ bên dòng Đăk Snghé hiền hòa, xung quanh là rừng thông, suối đá và các dãy núi trùng điệp. Khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, cùng cảnh quan còn giữ được nét nguyên sơ, đã tạo điều kiện thuận lợi để địa lan sinh trưởng, phát triển và nở hoa rực rỡ.
Nằm ở độ cao hơn 1.000 m, làng Vi Rơ Ngheo hiện lên như một “lòng chảo xanh” bình yên giữa đại ngàn. Làng có 63 hộ dân, với khoảng 300 nhân khẩu, phần lớn là đồng bào Xơ Đăng.
Những mái nhà trong làng quần tụ bên dòng Đăk Snghé hiền hòa, xung quanh là rừng thông, suối đá và các dãy núi trùng điệp. Khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, cùng cảnh quan còn giữ được nét nguyên sơ, đã tạo điều kiện thuận lợi để địa lan sinh trưởng, phát triển và nở hoa rực rỡ.
Khám phá Ngọk Pâng - “Kho báu xanh” giữa đại ngàn
Ẩn mình giữa hệ sinh thái rừng già thuộc dãy Trường Sơn Đông, núi Ngọk Pâng hiện lên như một tuyệt tác thiên nhiên còn vẹn nguyên giá trị. Vùng đất này sở hữu hệ động, thực vật phong phú, quý hiếm với nhiều loài đặc hữu. Có thể nói, Ngọk Pâng là “kho báu xanh” mang giá trị sinh học và cảnh quan hiếm có cần được bảo tồn và phát huy.
Núi Ngọk Pâng có độ cao trung bình 2.251 m (đỉnh cao nhất 2.568 m) so với mực nước biển, nằm giữa xã Măng Ri và xã Đăk Sao (Quảng Ngãi).
Dù đỉnh núi theo địa giới hành chính thuộc xã Măng Ri, nhưng hành trình chinh phục thường bắt đầu từ phía xã Đăk Sao vì địa hình thuận lợi hơn. Từ hai phía, núi Ngọk Pâng hiện lên rõ nét giữa trùng điệp rừng xanh, đủ để đánh thức khát khao khám phá.
Núi Ngọk Pâng có độ cao trung bình 2.251 m (đỉnh cao nhất 2.568 m) so với mực nước biển, nằm giữa xã Măng Ri và xã Đăk Sao (Quảng Ngãi).
Dù đỉnh núi theo địa giới hành chính thuộc xã Măng Ri, nhưng hành trình chinh phục thường bắt đầu từ phía xã Đăk Sao vì địa hình thuận lợi hơn. Từ hai phía, núi Ngọk Pâng hiện lên rõ nét giữa trùng điệp rừng xanh, đủ để đánh thức khát khao khám phá.
19 thg 5, 2026
Độc đáo kiến trúc xây dựng bằng đá ong
Trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn nhiều ngôi nhà, giếng nước, tường rào được xây bằng đá ong từ cách đây hàng trăm năm.
Vật liệu xây dựng cổ xưa
Vật liệu xây dựng cổ xưa
Đá ong là loại đá tự nhiên có cấu trúc xốp, nhiều lỗ rỗng, màu đỏ nâu đặc trưng. Ngày trước, đá ong là vật liệu chủ yếu dùng để xây tường nhà. Những viên đá ong được đẽo gọt phẳng, ghép nối bằng vữa, tạo nên các mảng tường chắc chắn, giàu tính thẩm mỹ. Kỹ thuật giấu mạch thường được áp dụng để tạo cảm giác như các viên đá được xếp chồng lên nhau tự nhiên mà không dùng vữa. Những ngôi nhà có tường vách xây bằng đá ong mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông.
Trên thế giới, đá ong từng là vật liệu xây dựng quan trọng trong một số công trình thời cận đại như cầu Kompong Kdei (Camphuchia), xây dựng vào thế kỷ XII dưới thời vua Jayavarman VII), có kết cấu vòm từ những tảng đá ong lớn. Dù không sử dụng chất kết dính, cây cầu hơn ngàn năm tuổi vẫn sừng sững với thời gian.
16 thg 5, 2026
Gìn giữ vị ngọt quê hương
Hơn bốn mươi năm qua, bà Nguyễn Thị Dung, 64 tuổi, ở phường Cẩm Thành, vẫn lặng lẽ giữ lửa, chắt chiu từng mẻ đường phèn từ đôi bàn tay và kinh nghiệm tích góp qua năm tháng.
Hơn 40 năm qua, bà Nguyễn Thị Dung và gia đình vẫn đều đặn nấu đường mỗi ngày. Công việc ấy lặp lại như một thói quen, nhưng lại giữ trong đó tình yêu nghề tha thiết.
“Thuở đôi mươi, tôi đã theo nghề rồi. Ngày xưa chưa có máy móc, người ta dùng trâu quay cối ép mía, nấu đường rồi đem ra chợ bán. Tôi cũng làm từ hồi đó tới giờ”, bà Dung kể, giọng chậm rãi.
Khi các nhà máy đường xuất hiện, nhiều người rời bếp lửa, chuyển sang bán mía, buôn đường công nghiệp. Bà Dung cũng từng thử buôn đường, nhưng rồi lại quay về với làm đường phèn thủ công. Không phải vì dễ, mà vì quen với mùi đường chín, quen với cảm giác canh lửa, quen với việc chờ đợi một mẻ đường thành hình.
“Buôn bán thì không ổn định, mình không chủ động được. Tôi quay lại làm đường phèn, ban đầu cũng khó, nhưng làm riết rồi quen”, bà Dung tâm sự.
Hơn 40 năm qua, bà Nguyễn Thị Dung và gia đình vẫn đều đặn nấu đường mỗi ngày. Công việc ấy lặp lại như một thói quen, nhưng lại giữ trong đó tình yêu nghề tha thiết.
“Thuở đôi mươi, tôi đã theo nghề rồi. Ngày xưa chưa có máy móc, người ta dùng trâu quay cối ép mía, nấu đường rồi đem ra chợ bán. Tôi cũng làm từ hồi đó tới giờ”, bà Dung kể, giọng chậm rãi.
Khi các nhà máy đường xuất hiện, nhiều người rời bếp lửa, chuyển sang bán mía, buôn đường công nghiệp. Bà Dung cũng từng thử buôn đường, nhưng rồi lại quay về với làm đường phèn thủ công. Không phải vì dễ, mà vì quen với mùi đường chín, quen với cảm giác canh lửa, quen với việc chờ đợi một mẻ đường thành hình.
“Buôn bán thì không ổn định, mình không chủ động được. Tôi quay lại làm đường phèn, ban đầu cũng khó, nhưng làm riết rồi quen”, bà Dung tâm sự.
15 thg 5, 2026
Bản sắc S’tiêng ở điểm đến cộng đồng Bom Bo
Xã Bom Bo (Đồng Nai) xác định định hướng chiến lược là triển khai chương trình đột phá về văn hóa và du lịch với đề án “Phát triển du lịch địa phương gắn với khai thác tiềm năng nông nghiệp và bảo tồn văn hóa dân tộc S’tiêng, giai đoạn 2025–2030”. Chiến lược mang thông điệp “Bom Bo - Bản sắc S'tiêng, điểm đến cộng đồng”.
10 thg 5, 2026
Về xứ Mường: Độc đáo gốm Mường
Người Mường vốn không làm gốm nhưng một họa sĩ đã dùng hơn 10 năm 'biến hóa' cùng đất tổ mối, men tro, nguyên liệu bản địa để khai sinh dòng nghệ thuật mới: gốm Mường.
Trong không gian mênh mang của Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, dễ bắt gặp những hình khối gốm, chất liệu quen nhưng tạo hình khác biệt, sắc men giản dị nhưng sâu lắng, nhiều chi tiết hỏa biến nhờ nung - đốt tinh tế mà mộc mạc. Chủ nhân của chúng, họa sĩ Vũ Đức Hiếu, gọi đó là "gốm Mường".
Người Mường xưa không làm gốm nhưng họa sĩ Vũ Đức Hiếu lại dùng chữ "Mường" để đặt tên cho dòng gốm do mình khai sinh. Anh nói: "Trong lịch sử gốm Việt, nhiều dòng gốm cũng mang tên vùng đất như Bát Tràng, Chu Đậu, Gò Sành, Lái Thiêu… Tôi chỉ tiếp nối cách định danh ấy, nhưng với không gian văn hóa Mường đương đại".
Trong không gian mênh mang của Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, dễ bắt gặp những hình khối gốm, chất liệu quen nhưng tạo hình khác biệt, sắc men giản dị nhưng sâu lắng, nhiều chi tiết hỏa biến nhờ nung - đốt tinh tế mà mộc mạc. Chủ nhân của chúng, họa sĩ Vũ Đức Hiếu, gọi đó là "gốm Mường".
Người Mường xưa không làm gốm nhưng họa sĩ Vũ Đức Hiếu lại dùng chữ "Mường" để đặt tên cho dòng gốm do mình khai sinh. Anh nói: "Trong lịch sử gốm Việt, nhiều dòng gốm cũng mang tên vùng đất như Bát Tràng, Chu Đậu, Gò Sành, Lái Thiêu… Tôi chỉ tiếp nối cách định danh ấy, nhưng với không gian văn hóa Mường đương đại".
Về xứ Mường: Chuyện 'chiêng có hồn'
Chỉ bằng cái xoa nhẹ, chiếc chiêng cổ bỗng ngân lên thứ âm thanh lạnh sống lưng. Nhưng lạ thay, cũng chiếc chiêng ấy, người khác xoa mãi, chiêng vẫn im lặng.
Người Mường tin rằng chiêng có hồn. Chiêng không chỉ là nhạc cụ, mà là tiếng nói của làng bản, là linh hồn của nghi lễ, hội hè. Không phải ai cũng chơi được chiêng xứ Mường. Nhiều gia đình mỗi khi đem chiêng ra sử dụng còn phải làm nghi lễ cúng bái để "đánh thức chiêng".
Người Mường tin rằng chiêng có hồn. Chiêng không chỉ là nhạc cụ, mà là tiếng nói của làng bản, là linh hồn của nghi lễ, hội hè. Không phải ai cũng chơi được chiêng xứ Mường. Nhiều gia đình mỗi khi đem chiêng ra sử dụng còn phải làm nghi lễ cúng bái để "đánh thức chiêng".
Về xứ Mường: Câu hò xin thần rừng và nhà lang cuối cùng
Muốn lắng nghe hồn vía xứ Mường, phải về Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) - vùng đất được xem là địa bàn cư trú cổ xưa nhất của người Mường (chiếm hơn 60% dân số).
Từ QL6, qua Mường Khan, Mường Khến…, chúng tôi rẽ vào Tân Lạc - Mường Bi xưa - đúng mùa vàng đương vụ, thung lũng như khoác tấm áo rực rỡ nhất trong năm. Đường vào Mường Bi nức mùi lúa chín…
Từ QL6, qua Mường Khan, Mường Khến…, chúng tôi rẽ vào Tân Lạc - Mường Bi xưa - đúng mùa vàng đương vụ, thung lũng như khoác tấm áo rực rỡ nhất trong năm. Đường vào Mường Bi nức mùi lúa chín…
HÒ MƯỜNG - THANH ÂM DĨ VÃNG
Hò Mường còn gọi là hò kéo gỗ. Tư liệu chi tiết về lời ca cụ thể của điệu hò này rất hiếm nhưng sự tồn tại của nó gắn liền với nghi lễ dựng nhà sàn. Việc kéo những cây gỗ lớn từ rừng về bản đòi hỏi sức mạnh tập thể. Tiếng hò ở đây đóng vai trò như nhịp đếm để đồng bộ hóa sức lực của hàng chục con người. Đồng thời, điệu hò còn mang ý nghĩa tâm linh: lời xin phép thần rừng, thần cây trước khi đưa gỗ về làm nhà.
Họa sĩ Hiếu "Mường" (Vũ Đức Hiếu, người có hơn 20 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Mường) kể lại: "Tôi biết điệu hò Mường khoảng năm 2007 khi thuê phường mộc Tuân Lộ (Mường Bi) dựng lại nhà lang (kiến trúc đặc trưng của người Mường). Khi dựng cột, kéo gỗ, họ cất tiếng hát, khi đến cuối câu, ngắt nhịp, lại nghe: Hò dô! Hò ả! Hỏi ra mới biết đó là hò Mường".
Hò Mường còn gọi là hò kéo gỗ. Tư liệu chi tiết về lời ca cụ thể của điệu hò này rất hiếm nhưng sự tồn tại của nó gắn liền với nghi lễ dựng nhà sàn. Việc kéo những cây gỗ lớn từ rừng về bản đòi hỏi sức mạnh tập thể. Tiếng hò ở đây đóng vai trò như nhịp đếm để đồng bộ hóa sức lực của hàng chục con người. Đồng thời, điệu hò còn mang ý nghĩa tâm linh: lời xin phép thần rừng, thần cây trước khi đưa gỗ về làm nhà.
Họa sĩ Hiếu "Mường" (Vũ Đức Hiếu, người có hơn 20 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Mường) kể lại: "Tôi biết điệu hò Mường khoảng năm 2007 khi thuê phường mộc Tuân Lộ (Mường Bi) dựng lại nhà lang (kiến trúc đặc trưng của người Mường). Khi dựng cột, kéo gỗ, họ cất tiếng hát, khi đến cuối câu, ngắt nhịp, lại nghe: Hò dô! Hò ả! Hỏi ra mới biết đó là hò Mường".
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)































