Hiển thị các bài đăng có nhãn Du ký - Suy ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du ký - Suy ngẫm. Hiển thị tất cả bài đăng

23 thg 5, 2026

Chim về giữa không gian xanh Hồ Gươm

Một cá thể chim vạc đậu trên tán cây xanh tại khu vực hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN

Những ngày đầu Hè, nhiều loài chim hoang dã như cò, vạc, diệc… bỗng xuất hiện quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm, bay lượn, săn mồi và trú ngụ trên các tán cây xanh quanh đảo Ngọc, trong khung cảnh mặt nước hồ và không gian bình yên khu vực trung tâm Thủ đô, góp phần mang đến diện mạo sinh thái đặc biệt cho không gian nơi này.

22 thg 5, 2026

Những nghề xưa hồi sinh bên hồ Lắk

Người Mnông bên hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk vẫn lặng lẽ giữ nghề truyền thống. Từ khung cửi, men rượu cần đến gốm đen, mỗi sản phẩm chứa đựng hồn cốt văn hóa gắn với du lịch cộng đồng.

Phụ nữ Mnông buôn Lê dệt thổ cẩm trong nhà sinh hoạt cộng đồng của buôn

21 thg 5, 2026

Tàu du lịch Đà Lạt: Bảo tồn di sản gắn với phát triển

Ga Đà Lạt (phường Xuân Hương – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) nằm ở độ cao hơn 1.500 m so với mực nước biển, được xem là một trong những nhà ga cổ đẹp nhất Việt Nam và khu vực Đông Dương.

Không chỉ mang giá trị lịch sử, kiến trúc độc đáo, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trải nghiệm hành trình tàu du lịch Đà Lạt – Trại Mát giữa không gian cao nguyên thơ mộng.

Bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch

Ga Đà Lạt được người Pháp khởi công xây dựng năm 1932 và hoàn thành vào năm 1938, là ga đầu mối của tuyến đường sắt Phan Rang – Đà Lạt dài khoảng 84 km. Trên toàn tuyến có khoảng 16 km sử dụng hệ thống đường ray răng cưa để vượt đèo Ngoạn Mục với độ dốc trung bình 12%. Thời điểm đó, công nghệ đường sắt răng cưa chỉ xuất hiện tại Thụy Sĩ và Việt Nam, trở thành dấu ấn kỹ thuật đặc biệt của ngành đường sắt thế giới.

Ga Đà Lạt - nơi chuyến tàu “Đà Lạt đêm say – Một hành trình đa trải nghiệm” xuất phát. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN

Khám phá vẻ đẹp mê hoặc của những loài chim hoang dã ở Vườn Quốc gia Cát Tiên

Vườn quốc gia Cát Tiên được ví như “đất nước thu nhỏ” của loài chim rừng, bởi nơi đây chiếm hơn 40% tổng loài chim của Việt Nam.

Vườn quốc gia Cát Tiên có tổng diện tích hơn 71.000 ha và được đánh giá cao về tính đa dạng sinh học. Nơi đây cũng được mệnh danh là “ngôi nhà của muôn thú” với 96 loài thú, 94 loài bò sát và 903 côn trùng. Đối với hệ chim, Vườn quốc gia Cát Tiên có 343 loài chim, chiếm hơn 40% tổng loài chim của Việt Nam.

Là rừng đất thấp ẩm ướt nhiệt đới, Vườn quốc gia được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Những cánh rừng nguyên sinh ở Vườn quốc gia Cát Tiên. Ảnh: Lê Đức Khánh

20 thg 5, 2026

Cù lao Phố, miền đất di sản trong hành trình mở cõi phương Nam

Cù lao Phố (cù lao Hiệp Hòa), phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai là địa danh gắn liền với hành trình mở cõi đất phương Nam của dân tộc. Trên vùng đất này hiện vẫn còn hàng chục di tích lịch sử, văn hóa gắn liền với chiều dài lịch sử gần 330 năm hình thành và phát triển của Đồng Nai.

Tượng Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh trong khuôn viên Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược vùng đất phương Nam, lập dinh Trấn Biên, đặt nền móng cho quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai ngày nay. Sự kiện Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập dinh Trấn Biên được xem là dấu mốc lịch sử quan trọng trong tiến trình xác lập chủ quyền và tổ chức quản lý hành chính của Nhà nước phong kiến Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ.

Tại cù lao Phố hiện nay có đến 11 ngôi đình, 6 ngôi chùa, 1 thánh thất cùng nhiều tịnh xá và miếu, mộ cổ. Trong số đó, 3 công trình đã được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, gồm: Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Đại Giác cổ tự và chùa Ông. Mỗi công trình văn hóa tại đây đều gắn liền với những câu chuyện và sự kiện được truyền qua nhiều thế hệ.

Cũng trên cù lao Phố, Đại Giác cổ tự (chùa Đại Giác) là một trong những ngôi chùa cổ nhất Nam Bộ xưa, được xây dựng từ năm 1665. Với lịch sử khai sơn khá sớm, chùa Đại Giác là một trong những di tích lịch sử minh chứng cho quá trình phát triển của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.

Toàn cảnh khuôn viên Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh tại cù lao Phố là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Thành phố Đồng Nai (trước đây là tỉnh Đồng Nai) luôn quan tâm tôn tạo, đầu tư nâng cấp Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Chùa Ông tại cù lao Phố là ngôi chùa của người Hoa đầu tiên ở xứ Nam Bộ, được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1989.

Người dân tham gia Lễ hội Chùa Ông. Lễ hội được tổ chức thường niên từ ngày 9 đến 13 tháng Giêng và được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2023.

Cù lao Phố nằm ở phía Đông Nam của phường Trấn Biên, được bao bọc bởi 2 nhánh sông Đồng Nai. Vùng đất có diện tích khoảng 700 ha này được ví là “hòn ngọc xanh” giữa dòng Đồng Nai.

Phạm Tùng

Rực sắc địa lan giữa đại ngàn

Mùa này, làng Vi Rơ Ngheo, xã Măng Đen, như được dệt nên bởi muôn sắc hoa địa lan nở rộ, tạo thành bức tranh rực rỡ giữa đại ngàn. Không chỉ làm nên vẻ đẹp đặc trưng, địa lan còn góp phần tạo sức hút riêng cho làng du lịch cộng đồng nơi đây.

Nằm ở độ cao hơn 1.000 m, làng Vi Rơ Ngheo hiện lên như một “lòng chảo xanh” bình yên giữa đại ngàn. Làng có 63 hộ dân, với khoảng 300 nhân khẩu, phần lớn là đồng bào Xơ Đăng.

Những mái nhà trong làng quần tụ bên dòng Đăk Snghé hiền hòa, xung quanh là rừng thông, suối đá và các dãy núi trùng điệp. Khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, cùng cảnh quan còn giữ được nét nguyên sơ, đã tạo điều kiện thuận lợi để địa lan sinh trưởng, phát triển và nở hoa rực rỡ. 

Làng du lịch cộng đồng Vi Rơ Ngheo ở xã Măng Đen. Ảnh: N.NGỌC

Khám phá Ngọk Pâng - “Kho báu xanh” giữa đại ngàn

Ẩn mình giữa hệ sinh thái rừng già thuộc dãy Trường Sơn Đông, núi Ngọk Pâng hiện lên như một tuyệt tác thiên nhiên còn vẹn nguyên giá trị. Vùng đất này sở hữu hệ động, thực vật phong phú, quý hiếm với nhiều loài đặc hữu. Có thể nói, Ngọk Pâng là “kho báu xanh” mang giá trị sinh học và cảnh quan hiếm có cần được bảo tồn và phát huy.

Núi Ngọk Pâng có độ cao trung bình 2.251 m (đỉnh cao nhất 2.568 m) so với mực nước biển, nằm giữa xã Măng Ri và xã Đăk Sao (Quảng Ngãi).

Dù đỉnh núi theo địa giới hành chính thuộc xã Măng Ri, nhưng hành trình chinh phục thường bắt đầu từ phía xã Đăk Sao vì địa hình thuận lợi hơn. Từ hai phía, núi Ngọk Pâng hiện lên rõ nét giữa trùng điệp rừng xanh, đủ để đánh thức khát khao khám phá.

Đỉnh Ngọk Pâng kỳ vĩ trong ánh bình minh.

19 thg 5, 2026

Độc đáo kiến trúc xây dựng bằng đá ong

Trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn nhiều ngôi nhà, giếng nước, tường rào được xây bằng đá ong từ cách đây hàng trăm năm.

Vật liệu xây dựng cổ xưa

Đá ong là loại đá tự nhiên có cấu trúc xốp, nhiều lỗ rỗng, màu đỏ nâu đặc trưng. Ngày trước, đá ong là vật liệu chủ yếu dùng để xây tường nhà. Những viên đá ong được đẽo gọt phẳng, ghép nối bằng vữa, tạo nên các mảng tường chắc chắn, giàu tính thẩm mỹ. Kỹ thuật giấu mạch thường được áp dụng để tạo cảm giác như các viên đá được xếp chồng lên nhau tự nhiên mà không dùng vữa. Những ngôi nhà có tường vách xây bằng đá ong mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông.

Trên thế giới, đá ong từng là vật liệu xây dựng quan trọng trong một số công trình thời cận đại như cầu Kompong Kdei (Camphuchia), xây dựng vào thế kỷ XII dưới thời vua Jayavarman VII), có kết cấu vòm từ những tảng đá ong lớn. Dù không sử dụng chất kết dính, cây cầu hơn ngàn năm tuổi vẫn sừng sững với thời gian.

Ngôi nhà đá ong của ông Nguyễn Ngọc Thanh, ở xã Vạn Tường.

16 thg 5, 2026

Gìn giữ vị ngọt quê hương

Hơn bốn mươi năm qua, bà Nguyễn Thị Dung, 64 tuổi, ở phường Cẩm Thành, vẫn lặng lẽ giữ lửa, chắt chiu từng mẻ đường phèn từ đôi bàn tay và kinh nghiệm tích góp qua năm tháng.

Hơn 40 năm qua, bà Nguyễn Thị Dung và gia đình vẫn đều đặn nấu đường mỗi ngày. Công việc ấy lặp lại như một thói quen, nhưng lại giữ trong đó tình yêu nghề tha thiết.

“Thuở đôi mươi, tôi đã theo nghề rồi. Ngày xưa chưa có máy móc, người ta dùng trâu quay cối ép mía, nấu đường rồi đem ra chợ bán. Tôi cũng làm từ hồi đó tới giờ”, bà Dung kể, giọng chậm rãi.

Khi các nhà máy đường xuất hiện, nhiều người rời bếp lửa, chuyển sang bán mía, buôn đường công nghiệp. Bà Dung cũng từng thử buôn đường, nhưng rồi lại quay về với làm đường phèn thủ công. Không phải vì dễ, mà vì quen với mùi đường chín, quen với cảm giác canh lửa, quen với việc chờ đợi một mẻ đường thành hình.

“Buôn bán thì không ổn định, mình không chủ động được. Tôi quay lại làm đường phèn, ban đầu cũng khó, nhưng làm riết rồi quen”, bà Dung tâm sự. 

Làm đường phèn không chỉ là nấu đường. Đó là cả một quá trình chắt lọc. Đường được hòa với nước, khuấy đều cho tan hết, rồi lọc kỹ để bỏ tạp chất. Công đoạn này quyết định độ trong của đường. Sau đó, dung dịch được đun lên, lửa phải đều, người nấu không được rời tay.

15 thg 5, 2026

Bản sắc S’tiêng ở điểm đến cộng đồng Bom Bo

Xã Bom Bo (Đồng Nai) xác định định hướng chiến lược là triển khai chương trình đột phá về văn hóa và du lịch với đề án “Phát triển du lịch địa phương gắn với khai thác tiềm năng nông nghiệp và bảo tồn văn hóa dân tộc S’tiêng, giai đoạn 2025–2030”. Chiến lược mang thông điệp “Bom Bo - Bản sắc S'tiêng, điểm đến cộng đồng”.

Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S’tiêng Sóc Bom Bo là nơi lưu giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá tiêu biểu của Người S’tiêng. Ảnh: K GỬIH-TTXVN

10 thg 5, 2026

Về xứ Mường: Độc đáo gốm Mường

Người Mường vốn không làm gốm nhưng một họa sĩ đã dùng hơn 10 năm 'biến hóa' cùng đất tổ mối, men tro, nguyên liệu bản địa để khai sinh dòng nghệ thuật mới: gốm Mường.

Trong không gian mênh mang của Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, dễ bắt gặp những hình khối gốm, chất liệu quen nhưng tạo hình khác biệt, sắc men giản dị nhưng sâu lắng, nhiều chi tiết hỏa biến nhờ nung - đốt tinh tế mà mộc mạc. Chủ nhân của chúng, họa sĩ Vũ Đức Hiếu, gọi đó là "gốm Mường".

Người Mường xưa không làm gốm nhưng họa sĩ Vũ Đức Hiếu lại dùng chữ "Mường" để đặt tên cho dòng gốm do mình khai sinh. Anh nói: "Trong lịch sử gốm Việt, nhiều dòng gốm cũng mang tên vùng đất như Bát Tràng, Chu Đậu, Gò Sành, Lái Thiêu… Tôi chỉ tiếp nối cách định danh ấy, nhưng với không gian văn hóa Mường đương đại".

Họa sĩ Vũ Đức Hiếu trong công đoạn vào men cho tác phẩm gốm Mường. Ảnh: P.A

Về xứ Mường: Chuyện 'chiêng có hồn'

Chỉ bằng cái xoa nhẹ, chiếc chiêng cổ bỗng ngân lên thứ âm thanh lạnh sống lưng. Nhưng lạ thay, cũng chiếc chiêng ấy, người khác xoa mãi, chiêng vẫn im lặng.

Người Mường tin rằng chiêng có hồn. Chiêng không chỉ là nhạc cụ, mà là tiếng nói của làng bản, là linh hồn của nghi lễ, hội hè. Không phải ai cũng chơi được chiêng xứ Mường. Nhiều gia đình mỗi khi đem chiêng ra sử dụng còn phải làm nghi lễ cúng bái để "đánh thức chiêng".

Nghệ nhân Nguyễn Văn Thực và chiếc chiêng xoa độc đáo. ẢNH: L.Y

Về xứ Mường: Câu hò xin thần rừng và nhà lang cuối cùng

Muốn lắng nghe hồn vía xứ Mường, phải về Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) - vùng đất được xem là địa bàn cư trú cổ xưa nhất của người Mường (chiếm hơn 60% dân số).

Từ QL6, qua Mường Khan, Mường Khến…, chúng tôi rẽ vào Tân Lạc - Mường Bi xưa - đúng mùa vàng đương vụ, thung lũng như khoác tấm áo rực rỡ nhất trong năm. Đường vào Mường Bi nức mùi lúa chín…

HÒ MƯỜNG - THANH ÂM DĨ VÃNG

Hò Mường còn gọi là hò kéo gỗ. Tư liệu chi tiết về lời ca cụ thể của điệu hò này rất hiếm nhưng sự tồn tại của nó gắn liền với nghi lễ dựng nhà sàn. Việc kéo những cây gỗ lớn từ rừng về bản đòi hỏi sức mạnh tập thể. Tiếng hò ở đây đóng vai trò như nhịp đếm để đồng bộ hóa sức lực của hàng chục con người. Đồng thời, điệu hò còn mang ý nghĩa tâm linh: lời xin phép thần rừng, thần cây trước khi đưa gỗ về làm nhà.

Họa sĩ Hiếu "Mường" (Vũ Đức Hiếu, người có hơn 20 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Mường) kể lại: "Tôi biết điệu hò Mường khoảng năm 2007 khi thuê phường mộc Tuân Lộ (Mường Bi) dựng lại nhà lang (kiến trúc đặc trưng của người Mường). Khi dựng cột, kéo gỗ, họ cất tiếng hát, khi đến cuối câu, ngắt nhịp, lại nghe: Hò dô! Hò ả! Hỏi ra mới biết đó là hò Mường".

Đỉnh núi cột cờ nơi cánh đồng Mường Bi. Ảnh: P.A

Về xứ Mường: 'Quái ngư' sông Đà trong cỗ lá Mường

Tại sao dân sành ăn lại mê mẩn những loài "quái ngư" dưới sông Đà ? Bài viết hé lộ câu chuyện quái ngư và quy tắc "người vào, ma ra" trong ẩm thực xứ Mường.

"Cỗ lá" là mâm cỗ bày trên lá (thường là lá chuối). Người Mường đi đâu, về đâu, trong mọi cuộc hội hè, khi dọn mâm đãi khách, cỗ lá là điều không thể thiếu. Món đãi khách bày trên lá chuối xanh, nơi xôi đồ (xôi hấp), thịt lợn, rau rừng sum vầy. Trong mâm cỗ lá ấy, từ ngàn đời đã có một "ngôi chủ" được ưu ái, nâng niu nhiều nhất, chính là cá - món ngon mang hồn vía sông Đà, dân dã mà huyền thoại.

Đoạn đường về với xứ Mường, dường như ngày nào cũng gặp cỗ lá. Dù đã quen, đã say với những món ăn tươi nguyên hơi thở núi rừng, vẫn luôn có một điều khiến những kẻ phương xa chúng tôi phải reo lên thích thú, bởi vì cá!

Một mâm cá sông Đà với cá bống kho, cá ốt đồ, cá mầm nấu lá sắn muối chua. ẢNH: P.A

Về xứ Mường: Thầy mo Mường và túi Khót bí ẩn

Lên xứ Mường Chậm (tỉnh Phú Thọ) gặp thầy mo đời thứ 6, mở túi Khót chứa hơn 40 bảo bối và nghe những câu chuyện nằm giữa ranh giới hư - thực.

Theo cứ liệu lịch sử, khảo cổ và giới chuyên gia, người Kinh và người Mường ngày xưa có cùng tổ tiên là người Việt cổ. Cả hai đều tương đồng nền văn minh lúa nước, nhóm ngôn ngữ, văn hóa…, đến nay, người Mường được xem là còn giữ nhiều nét xưa của người Việt cổ như thuật "gọi chiêng" bí truyền, ẩm thực "cỗ lá - cá Mường", thầy mo chữa bệnh, trừ tà...

Từ ngàn đời, người Mường coi thầy mo là cầu nối hai thế giới của Mường trời, Mường ma với Mường giữa (Mường Bằng) dành cho người. Mo vừa là người hành lễ trong các nghi thức tang ma, vía, dựng nhà, khai hạ… vừa là người gìn giữ văn hóa, bản sắc, gánh trên vai cả ký ức bản Mường.

Thầy mo Bùi Văn Quyện và ban thờ trong nhà của ông ở Mường Chậm. ẢNH: P.A - L.Y

9 thg 5, 2026

Bảo tồn Mộc bản chùa Trăm Gian

Mộc bản chùa Trăm Gian, thuộc xã An Phú, thành phố Hải Phòng đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. Thời gian qua, cùng với việc gìn giữ, tôn tạo di tích, địa phương đã chú trọng gắn bảo tồn với công tác quảng bá, giáo dục di sản, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Bảo vật quốc gia Mộc bản tại chùa Trăm Gian. Ảnh: Mạnh Tú/TTXVN

Để di sản nói chung, bảo vật quốc gia nói riêng trở nên gần gũi hơn, khơi dậy nguồn lực từ giá trị văn hóa trong đời sống hiện đại, bên cạnh trùng tu, tôn tạo, việc số hóa, chuẩn hóa dữ liệu di tích, kết nối với các di sản khác trên địa bàn được xác định là giải pháp cần thiết nhằm lan tỏa giá trị di sản.

“Sạc năng lượng” giữa núi rừng Yang Bay

Rời xa nhịp sống ồn ào của phố thị, dịp lễ 30-4 và 1-5 năm nay, đến với Yang Bay, du khách được đến với một khoảng trời bình yên riêng, nơi có rừng xanh, thác nước và bầu không khí trong lành. Không còn tiếng còi xe, không còn những mảng bê tông khô cứng, Yang Bay mang đến không gian lưu trú xanh mát, nơi mỗi sớm mai thức giấc là một lần được lắng nghe tiếng chim hót và cảm nhận trọn vẹn từng khoảnh khắc giao hòa với thiên nhiên.

Toàn cảnh Khu lưu trú Đảo Ngọc - Yang Bay.

Đêm lên đèn trên bờ kè Đông Hải

Chiều cuối tuần, con đường dẫn ra bờ kè Đông Hải (phường Đông Ninh Hòa) dày thêm những vệt xe. Gió biển mang vị mặn quen, lùa qua những hiên nhà thấp. Trên thân kè, ánh đèn bật sáng từng điểm, nối thành dải dài men theo mép nước. Biển phía ngoài lặng. Phía trong, một nhịp sống khác vừa kịp thức.

Tuyến bờ kè Đông Hải kéo dài dọc làng biển, trở thành không gian dạo bộ và sinh hoạt cộng đồng.

8 thg 5, 2026

Khâu Vai - nơi sắp gọi bước chân du khách

Những ngày tháng Tư, khi sương sớm còn giăng nhẹ trên triền đá, Khâu Vai (tỉnh Tuyên Quang) bắt đầu rộn ràng chuẩn bị đón mùa chợ tình. Phiên chợ "phong lưu" - nơi những câu chuyện yêu thương được nối dài qua bao thế hệ lại sắp gọi bước chân du khách tìm về.

Phiên chợ Phong lưu Khau Vai, còn gọi là "Chợ tình Khau Vai" đã góp phần giúp đời sống người dân "xứ đá" trở nên sinh động, gìn giữ được nét văn hóa đặc sắc. Ảnh: Minh Quyết/TTXVN

7 thg 5, 2026

Phục dựng và lan tỏa giá trị nghi lễ Tế Cửu Khúc

Giữa không gian linh thiêng của cố đô ngàn năm văn hiến, Lễ tế Cửu Khúc hiện lên như một điểm nhấn rực rỡ trong chuỗi nghi lễ tại Lễ hội Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Không chỉ đơn thuần là nghi thức tế lễ trang nghiêm tôn vinh công đức hiển hách của Vua Đinh Tiên Hoàng cùng các bậc tiền nhân mà còn gửi gắm ước nguyện về một vận nước thái bình, mưa thuận gió hòa của người dân đất Việt. Nghi lễ này đã trở thành nhịp cầu kết nối quá khứ và hiện tại, thể hiện khát vọng về một đất nước thịnh vượng, nhân dân an lạc.

Đội tế Tổ dân phố Đông Thành, phường Tây Hoa Lư chuẩn bị nghi thức trong Lễ tế cửu khúc. Ảnh: Hải Yến - TTXVN