Hiển thị các bài đăng có nhãn Con người - Sự kiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con người - Sự kiện. Hiển thị tất cả bài đăng

22 thg 3, 2026

Lễ hội hoa tulip góp phần làm mới trải nghiệm du lịch tại núi Bà Đen

Những ngày gần đây, không gian hoa tulip rực rỡ trên núi Bà Đen (Tây Ninh) thu hút đông đảo du khách đến tham quan, chụp ảnh. Giữa khung cảnh núi non hùng vĩ, sắc hoa khoe màu tươi tắn mang đến trải nghiệm mới lạ, góp phần làm phong phú thêm sản phẩm du lịch tại “nóc nhà Nam Bộ”.

Từ sáng sớm đến chiều muộn, từng dòng người nối nhau đổ về khu vực trưng bày hoa để tham quan, chụp ảnh. Nhiều gia đình, nhóm bạn trẻ lựa chọn trang phục rực rỡ để “check-in”, lưu giữ khoảnh khắc giữa không gian hoa đầy màu sắc. Không khí tại đây luôn rộn ràng, xen lẫn sự thích thú khi du khách được tận mắt chiêm ngưỡng loài hoa vốn quen thuộc ở xứ lạnh.

Khu vực đỉnh núi Bà Đen hoa tulip đồng loạt khoe sắc.

20 thg 3, 2026

Bảo vật của người Chăm và Raglai ở Khánh Hòa

Tỉnh Khánh Hòa đang lưu giữ nhiều hiện vật quý của người Chăm và Raglai được công nhận là Bảo vật quốc gia. Năm bảo vật tiêu biểu, gồm tượng vua Pô Klong Gara, Phù điêu vua Pô Rômê, Bia Phước Thiện, bộ sưu tập đàn đá Khánh Sơn, Bia Hòa Lai.

Dấu ấn văn hóa Chăm và Raglai

Quần thể tháp Pô Klong Garai gồm ba tháp trên đỉnh đồi Trầu (phường Đô Vinh), xây dựng cuối thế kỷ XIII – đầu thế kỷ XIV. Vượt qua thăng trầm lịch sử, di tích vẫn lưu giữ hiện vật và giá trị truyền thống của văn hóa Chăm. Năm 1979, Pô Klong Garai được xếp hạng Di tích quốc gia; năm 2016 được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt.

Chùa Hương qua ống kính khách quốc tế 35 năm trước

Du khách người Đức Hans-Peter Grumpe ghi lại cảnh sắc chùa Hương trong chuyến xuyên Việt năm 1991, khi ông xuôi dòng suối Yến vào động Hương Tích trên thuyền nan chèo tay.


Năm 1991, giáo viên người Đức Hans-Peter Grumpe lần đầu đến Việt Nam và thực hiện chuyến khám phá từ Nam ra Bắc. Ông chia sẻ du lịch Việt Nam cách đây 35 năm còn sơ khai, việc di chuyển giữa các địa điểm còn nhiều trở ngại. Khách quốc tế được yêu cầu giấy phép đặc biệt cho mọi điểm đến ngoài lộ trình thông thường và một số giấy phép chỉ có thể xin được tại Hà Nội.

Hans đến chùa Hương sau khi tham quan Hà Nội, ngôi chùa khi đó thuộc địa phận tỉnh Hà Tây, cách thủ đô 60 km, nay thuộc xã Mỹ Đức, Hà Nội. Hành trình chiêm bái chùa bắt đầu từ bến Đục (ảnh), với nhà cửa, cảnh quan hai bên bờ còn đơn sơ, hầu như chưa phát triển các dịch vụ.

19 thg 3, 2026

Tháng giêng, viếng đô đốc Bùi Thị Xuân

Về vùng đất thượng võ ngày đầu xuân, hào khí của đô đốc Bùi Thị Xuân vẫn vang vọng qua những câu chuyện hậu thế.

Ông Bùi Đắc Tiếu, cháu đời thứ 10, trông coi đền thờ - Ảnh: AN VI

Con cháu nữ tướng Tây Sơn Ngũ phụng thư vẫn ngày ngày trông coi đền thờ và kể về tiền nhân của mình đầy tự hào như chuyện vừa xảy ra chưa lâu.

Trong vô vàn giai thoại về nữ tướng Bùi Thị Xuân cưỡi voi, con cháu bà vẫn tin và tìm hiểu về chi tiết không có trong chính sử: nữ tướng không bị voi giày mà đã thoát thân lên núi, ở ẩn đến ngày tạ thế.

17 thg 3, 2026

Chuyện về tấm bảng đồng ở đình Minh Hương Gia Thạnh

Đình Minh Hương Gia Thạnh là một trong những ngôi đình xưa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ Vương Hồng Sển viết: Một ngôi chùa liên hệ rất nhiều đến lịch sử là chùa Minh Hương Gia Thạnh, lập năm Kỷ Dậu (1789) do di thần Minh mạt và con cháu Minh Hương, dựng trong Chợ Lớn (Sài Gòn thời đó), để di dưỡng tinh thần yêu cố quốc, mến quê hương, chùa nầy đến nay khói hương không dứt, được tiếng khéo tu bổ, khéo săn sóc nhứt trong vùng.

Cổng đình Minh Hương Gia Thạnh

14 thg 3, 2026

Kinh đô kháng chiến và trung hưng nhà Lê

Nếu Lam Kinh là “kinh đô tâm linh” của vương triều Lê, thì đất Vạn Lại - Yên Trường chính là “kinh đô kháng chiến” - nơi đứng chân vững chãi để sự nghiệp trung hưng nhà Lê đi đến thắng lợi cuối cùng. Vén “bức màn” thời gian, ngược tìm về quá khứ, dẫu không còn hệ thống đền đài, thành quách, song dấu tích còn lại vẫn là “chứng nhân” về một giai đoạn giao tranh đầy biến động trong lịch sử dân tộc.

Những hiện vật còn lại trên “kinh đô kháng chiến” Vạn Lại - Yên Trường âm thầm “kể chuyện” lịch sử.

3 thg 3, 2026

Khung cảnh khác thường ở huyệt đạo thiêng ngày "mở cổng trời"

Không còn cảnh tắc đường, chen lấn như mọi năm, du khách đến với đền Nưa - Am Tiên và huyệt đạo linh thiêng ở Thanh Hóa dịp đầu xuân Bính Ngọ 2026 cảm thấy thoải mái, phấn khởi với diện mạo mới.


Sáng 25/2 (mùng 9 tháng Giêng), đông đảo người dân và du khách thập phương đổ về Khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quốc gia - địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu, tỉnh Thanh Hóa để dự lễ "mở cổng trời".

Theo ghi nhận của phóng viên Dân trí, thời tiết trong ngày "mở cổng trời" có mưa, sương mù bao phủ, đỉnh ngàn Nưa chìm trong cảnh mờ ảo.

Tưởng nhớ công chúa đã hy sinh tình riêng, giúp mở mang bờ cõi

Lễ hội đền Huyền Trân được thành phố Huế tổ chức nhằm tưởng nhớ ái nữ của hoàng đế Trần Nhân Tông, người đã hy sinh tình riêng, giúp mở mang bờ cõi Đại Việt về phương Nam.

Ngày 25/2, thành phố Huế tổ chức lễ hội đền Huyền Trân Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề Ngưỡng vọng tiền nhân - dấu thiêng mở cõi.

Đây là hoạt động trọng tâm trong chương trình lễ hội mùa Xuân - Festival Huế 2026 nhằm tri ân, tưởng nhớ và tôn vinh công chúa Huyền Trân, nhân vật lịch sử có công lớn trong sự nghiệp mở mang bờ cõi, góp phần tạo dựng giang sơn, gấm vóc của dân tộc Việt Nam.

Lễ hội đền Huyền Trân được tổ chức nhằm tri ân công chúa đã hy sinh tình riêng, giúp mở mang bờ cõi Đại Việt (Ảnh: Vi Thảo).

Hơn 800 người diễu hành trẩy hội chùa Ông ở Đồng Nai

Hơn 800 người hóa trang thành thần tiên, nhân vật lịch sử, múa lân sư rồng, mặc trang phục truyền thống... diễu hành qua các tuyến phố trung tâm tỉnh Đồng Nai.

Ngày 26/2 (mùng 10 tháng Giêng), người dân Đồng Nai, TPHCM cùng nhiều khách du lịch tham gia diễu hành lễ nghinh thần độc đáo trên đường phố phường Trấn Biên (Đồng Nai) trong chương trình Lễ hội chùa Ông 2026.

Lễ Nghinh thần diễu hành trên nhiều tuyến đường phố phường Trấn Biên (Đồng Nai) gồm nhiều diễn viên biểu diễn văn nghệ, hóa trang các vị thần, nhân vật lịch sử trên các đường phố với độ dài khoảng 2,2 km.

Đoàn diễu hành đi trên đường Cách Mạng Tháng Tám (phường Trấn Biên, Đồng Nai).

27 thg 2, 2026

Lịch sử cột hải đăng Vũng Tàu

Cột hải đăng ở núi Nhỏ, thành phố Vũng Tàu được người Pháp khởi công thực hiện xây móng vào ngày 20.3.1862. Ngày 25 tháng 3 năm 1862 đặt viên đá đầu tiên và ngày 15.6.1862 được cắt băng khánh thành với nghi thức hết sức trang nghiêm, long trọng, pháo hạm Forbin kéo cờ từ sáng và bắn chào 21 phát đại bác ngoài vịnh Ghềnh Rái (Vũng Tàu).

Phòng trưng bày lưu niệm nhạc sĩ Camille Saint Saens tại di tích Nhà Công Quán

Di tích Nhà Công Quán nằm trong quần thể kiến trúc thị trấn tù do thực dân Pháp xây dựng vào cuối thế kỷ XIX bằng sức lao động khổ sai của tù nhân nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị tù.


Chức năng đầu tiên của ngôi nhà này là Nhà khách (Maisson de passanger) – nơi dừng chân cho lữ khách đến thi hành công vụ tại đảo. Đến thời Mỹ, ngôi nhà này được xây thêm mặt tiền nhô ra và đặt tên là Công Quán. Di tích nhà Công Quán cũng như các công trình kiến trúc của thị trấn tù là minh chứng cho việc bóc lột sức lao động khổ sai của người tù, là sự so sánh đối lập với kiến trúc ghê rợn của trại giam. Với ý nghĩa đó, di tích Nhà Công Quán được khởi công trùng tu, tôn tạo năm 2005 theo kiến trúc ngôi Nhà khách vãng lai thời Pháp và đã hoàn thành vào cuối năm 2006.

25 thg 2, 2026

Chuyện về con đường hạnh phúc tại Tân Trụ

Tại xã Tân Trụ, tỉnh Tây Ninh, có tuyến đường nổi tiếng với 2 hàng cau vua đều tăm tắp. Đường uốn lượn quanh những ruộng lúa, vườn thanh long tạo nên khung cảnh làng quê bình yên, tươi đẹp. Đó chính là đường Ông Đồ Nghị. Theo người dân địa phương, đường mang tên Ông Đồ Nghị là bởi đường dẫn vào “Xóm Ông Đồ”, nơi cụ đồ Lê Văn Nghị thuở xưa từng sinh sống, mở lớp dạy cả văn lẫn võ cho người dân trong vùng.

Ông Lê Văn Nghị sinh năm 1819 tại làng Bình Tịnh, nay thuộc xã Tân Trụ. Sinh ra trong gia đình làm nông, từ nhỏ, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh, thi đỗ Tú tài trong kỳ thi Hương ở Gia Định.

Dưới thời nhà Nguyễn, ông từng làm việc dưới trướng Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương. Trong giai đoạn này, ông được tin tưởng giao phó việc phân định ranh giới, chỉnh đốn hệ thống hành chính xã, ấp cho toàn tỉnh. Chính ông là người đã đặt tên cho nhiều địa danh có chữ “Bình” như: Bình Tịnh, Bình Tâm, Bình Điền, Bình Chánh… với mong muốn về một cuộc sống bình an, thái hòa cho dân.

21 thg 2, 2026

Vùng đất Hóa An xưa và nay

Phường Hóa An (TP. Biên Hòa) xưa thuộc làng Tân An và thôn Tân Hóa. Năm 1899, thôn Tân Hóa và làng Tân An sáp nhập thành làng Hóa An (Tổng Chánh Mỹ Thượng, H.Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa). Vào thời vua Tự Đức (1847-1883), làng Hóa An vỏn vẹn chưa tới 20 nhà.

Một góc nơi khuôn viên chùa Hiển Lâm (Hóc Ông Che). Ảnh: Đ.PHÚ

Với vùng đất được hình thành từ khá lâu đời, cư dân P. Hóa An góp phần làm đa dạng, phong phú về phong tục tập quán, văn hóa, con người của xứ Biên Hòa - Đồng Nai xưa và nay.

20 thg 2, 2026

Xóm Lò Heo

Không phải ngẫu nhiên khi nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu (1916-1992) - tác giả bộ địa chí Biên Hòa sử lược toàn biên trong chương Tỉnh thành Biên Hòa vào đầu thế kỷ XX bên cạnh việc chỉ rõ những công trình xây dựng quan trọng và tiêu biểu như: tòa bố, tòa án, nhà thương, trường học, chợ Biên Hòa, thành cổ, sân vận động… đã đưa vào một cơ sở dịch vụ giết mổ gia súc, được gọi là… lò sát sinh.

Xóm Lò Heo trong bản đồ Biên Hòa năm 1968. Ảnh do nhà nghiên cứu Lê Ngọc Quốc cung cấp.

Theo đó, “Lò sát sinh: Mới lập ở đầu đường Lý Thường Kiệt, sau dời đến “Thủy phi thuyền” (nay là trung tâm Phụng Hoàng). Kế, lại được thiên di lên đầu đường Trần Thượng Xuyên (còn lưu lại tục danh là Xóm Lò Heo"… “Lò Heo: Xóm Hoa - Việt tại góc đường Trần Thượng Xuyên - Thành Thái” (nay là khu phố Thành Thái, phường Trấn Biên). Vậy là nguồn gốc của Xóm Lò Heo đã rõ, chỉ tiếc là cụ Lương Văn Lựu không ghi cụ thể thời gian ra đời của khu dân cư khá đặc biệt này.

Song mai Tân Phú

Những năm qua, vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, có 4 cây mai tại tỉnh Đồng Nai trở thành những “ngôi sao sáng” trên mạng xã hội. 2 trong số 4 “nhân vật thương hiệu” này là cặp song mai cây anh - cây em tại xã Phú Xuân cũ, nay là xã Tân Phú (2 cây mai vàng còn lại ở xã Xuân Lộc và xã Phú Lợi).

Cây mai cổ thụ có tuổi đời khoảng 70 năm ở xã Tân Phú nở rộ vàng rực trong dịp Tết những năm trước.

Ngoài kích thước thuộc dạng “hiếm có khó tìm”, việc gia chủ luôn rộng cửa để mọi người đến tham quan, chụp ảnh là điều tạo nên sức hút của cặp “song mai” này.

19 thg 2, 2026

Giá trị đặc biệt của những cây đại cổ thụ ở chùa Côn Sơn

Trong khuôn viên chùa Côn Sơn (thành phố Hải Phòng) có những cây đại cổ thụ đã tồn tại qua nhiều thế kỷ.

Những cây đại cổ thụ bên cạnh mái chùa Côn Sơn cổ kính

Dạo bước dưới hàng thông cổ thụ rồi lách qua cánh cổng chùa Côn Sơn rêu phong, du khách như lạc vào một không gian tĩnh mịch, mà ở đó thời gian như ngưng đọng.

Kia mái chùa cổ kính, đây tiếng chuông trầm mặc rồi tan dần theo những làn hương trầm vương vấn. Trước mắt du khách hiện ra những gốc cây đại sù sì, rêu mốc và hợp với cảnh vật nơi này một cách lạ lùng.

18 thg 2, 2026

Bí ẩn thời niên thiếu của Hưng Đạo Đại vương và dấu tích ở chùa Thắng Nghiêm

Tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản 'Trần triều sự tích', cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy. Ảnh: ANTAMTOUR

Hiện không có bộ chính sử nào cho biết về giai đoạn đầu đời của Trần Quốc Tuấn từ khi sinh ra cho đến năm 1251 - thời điểm ông lấy Thiên Thành công chúa. Cũng không có chính sử ghi Trần Quốc Tuấn sinh năm nào.

Tuy nhiên, tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản "Trần triều sự tích", đã cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của ông, gắn với thời gian ông ẩn cư, học tập và tu luyện tại ngôi chùa này.

Từ bản thần tích còn lưu giữ và đối chiếu với Đại Việt sử ký toàn thư, PGS.TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học) cho rằng có thể tạm thời ghi nhận Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 3 năm Tân Mão (1231). Cũng theo đó, khi Trần Quốc Tuấn khoảng 6 - 7 tuổi, sau sự việc cha ông là Trần Liễu chống triều đình (năm 1237), ông được mẹ nuôi, cũng là cô ruột là Thụy Bà công chúa đưa về ẩn cư tại chùa Thắng Nghiêm (Khúc Thủy). Ông ẩn cư và học tập dưới sự che chở của sư thầy trụ trì ngôi chùa và của mẹ nuôi, trong khoảng 12 - 13 năm (1237 - 1250).

Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy được cho là nơi ẩn cư và học tập của Trần Quốc Tuấn trong khoảng 12 - 13 năm. Ảnh: ANTAMTOUR

Nhận định của PGS.TS Nguyễn Minh Tường được nhiều nhà khoa học khác đánh giá cao và cho rằng kết luận bước đầu Trần Quốc Tuấn đã từng ẩn cư học tập, tu luyện ở chùa Thắng Nghiêm là rất có cơ sở. Được biết, Trần triều sự tích là bản thần tích được chép lại vào cuối thế kỷ XIX. Đây được đánh giá là tài liệu đặc biệt, có cốt lõi lịch sử nhất định.

Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy và thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo đã từng được cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đề cập đến trong một nghiên cứu. Ảnh: ANTAMTOUR

Tuy nhiên, PGS.TS Trần Thị Vinh (Viện Sử học) cũng đưa ra cảnh báo các bản thần tích hiện còn nói chung cần phải được thẩm định kỹ về nội dung và xác định rõ về niên đại mới bảo đảm độ tin cậy. Hiện nay, phần nhiều di tích đều bị mất thần tích và nhiều địa phương đang tìm cách để khôi phục. Song đã có khá nhiều chuyện "râu ông nọ cắm cằm bà kia", thậm chí làm méo mó lịch sử bởi bệnh "sính" sự tích nhân thần có công với nước.

Tư liệu thần tích có vai trò quan trọng đối với việc nghiên cứu, bảo tồn và tái tạo di tích. Song cũng cần thận trọng khi sử dụng các tài liệu này. Bản thần tích Trần triều sự tích được lưu giữ từ lâu tại chùa Thắng Nghiêm là tài liệu quý nhưng chưa được kiểm chứng nên chưa có độ tin cậy...

Được biết, cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cũng đã từng đề cập đến vấn đề này trong một nghiên cứu. Dù chưa đưa ra khẳng định, song với tầm ảnh hưởng sâu rộng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đối với lịch sử thì chắc chắn sẽ có thêm nhiều nghiên cứu khác để đưa ra một lời giải về bí ẩn thời niên thiếu của ông.

Theo sử sách, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn có phần lớn thời gian gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp cho đến khi qua đời.

Anh Nguyễn Văn Cường, Phó Trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cho biết, dù thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo chưa được khẳng định, song những gì ông đóng góp đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông để bảo vệ bờ cõi Đại Việt đã được sử sách ghi chép khá chi tiết. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 1 năm 1258, khoảng năm 1262, Trần Hưng Đạo về Vạn Kiếp xây dựng phòng tuyến quân doanh phòng bị. Đây cũng là những tư liệu gián tiếp chứ không có tư liệu trực tiếp nào khẳng định ông về năm nào.

Sau khi giặc trở lại lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (cuối năm 1287-1288) đều thất bại khiến chúng từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt.

Sử sách ghi lại, sau khi đất nước thanh bình, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến chọn Vạn Kiếp - nơi trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông là đại bản doanh của ông cùng tướng sĩ làm nơi sinh sống.

Ngày 20/8 âm lịch năm Hưng Long thứ 8 (1300), Hưng Đạo Đại vương từ trần tại Tư dinh Vạn Kiếp. Tương truyền, trước khi hóa Thánh, Hưng Đạo Vương lên núi Mâm Xôi, 1 trong 9 ngọn núi thuộc dãy núi Trán Rồng phía sau đền Kiếp Bạc để từ biệt con dân. Khi Hưng Đạo Vương hóa Thánh về trời, nhân dân làng Kiếp, làng Bạc tiếc thương đã mang xôi lễ và 100 nén hương lên núi Mâm Xôi thờ phụng.

Theo văn bia tại di tích, đền Kiếp Bạc được xây dựng sau khi Hưng Đạo Đại vương qua đời năm 1300, vị trí đền ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc, trên khu đất rộng khoảng 13.500 m².

Như vậy, dù những cứ liệu về thời niên thiếu Trần Hưng Đạo sinh sống tại đâu vẫn còn nhiều điểm chưa được khẳng định, không có chính sử mà chỉ căn cứ vào bản "Trần triều sự tích", song phần lớn thời gian - gần 40 năm (khoảng từ năm 1262 cho đến khi ông qua đời), ông đã gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp - đại bản doanh của ông trong kháng chiến. Vạn Kiếp và các trận chiến đẩy lùi quân giặc hung hãn đến từ phương Bắc cũng làm nên tên tuổi của ông - Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. 

TIẾN HUY

17 thg 2, 2026

Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Ngôi đình xưa ở Tân Châu

Đình Long Sơn tọa lạc giữa phố dân cư đông đúc, nhà cửa san sát, thuộc TX. Tân Châu, An Giang. Long Sơn là vùng đất lâu đời và nổi tiếng của xứ lụa Tân Châu. Qua nhiều lần trùng tu, dù mang dáng dấp tân kỳ, nhưng dấu vết ngôi đình xưa vẫn còn đậm nét.

Ngôi đình hơn 170 năm


Cổng vào ngôi đình được xây dựng theo lối mới với cổng tam quan mái lợp ngói. Trước sân đình có một cây dương cổ thụ rất to. Dù nằm trong khu vực phố xá, nhưng khuôn viên ngôi đình có diện tích khá rộng, nhiều công trình phụ được trùng tu xây mới.

Mặt trước đình Long Sơn. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Giai thoại ông Thần ăn chay

Nằm cạnh bờ sông Ba Rày, Cẩm Sơn trai đình thuộc địa phận ấp 3, xã Cẩm Sơn, H. Cai Lậy, Tiền Giang. Ngôi đình có niên đại khoảng 250 năm, ban đầu gọi là miếu Thần ăn chay với nhiều giai thoại còn lưu truyền đến ngày nay.

Thăng trầm ngôi miếu cũ

Lịch sử địa phương chép, vào khoảng năm 1757, có đoàn người từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi theo lời kêu gọi của quan Điều khiển Nguyễn Cư Trinh đã vượt biển vào Nam khai hoang, lập làng dọc theo sông Ba Rày. Tục lệ bấy giờ, khi lập ấp phải dựng một ngôi miếu thờ bà Chúa Xứ, còn lập làng thì dựng đình thờ Thành hoàng bổn cảnh.

Lối vào đình Thần ăn chay. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Di tích cổ mộ trên đất cù lao

Từ chợ Vũng Liêm đi xe máy khoảng 30 phút đến bến phà vượt sông Cổ Chiên qua cù lao Dài. Qua phà xong, chúng tôi chạy lòng vòng, hỏi thăm đường tới khu mộ mẫu thân và cha mẹ vợ Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại tại ấp Thái Bình, xã Thanh Bình, H.Vũng Liêm, Vĩnh Long.

Lánh cư ở cù lao Dài

Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý đất Gia Định, chiêu mộ dân tới ở và lập làng xã. Năm 1732, thấy vùng này quá rộng, chúa Nguyễn bèn chia cắt, lập thêm châu Định Viễn và dinh Long Hồ. Bấy giờ, lỵ sở dinh Long Hồ đóng tại thôn An Bình, xứ Cái Bè. Đến năm 1765, lỵ sở châu Định Viễn và dinh Long Hồ dời đến xứ Tầm Bào (Vĩnh Long bây giờ). Lúc này, cù lao Dài đã được cư dân xứ Quảng vào khai phá, lập nghiệp.