Đình tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 4 ha, phía trước là hồ bán nguyệt, phía sau tựa vào núi, tạo nên thế đất hài hòa hiếm có, tựa sơn hướng thủy, phía ngoài xa là cánh đồng bãi ven sông Đáy. Không gian xanh mát, tĩnh lặng, tôn thêm vẻ uy nghiêm và cổ kính cho di tích.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
26 thg 2, 2026
Đình làng hơn 350 tuổi đẹp nhất Xứ Đoài
Đình làng So có lịch sử hơn 350 năm, nằm cách trung tâm Hà Nội 20 km, được đánh giá đẹp nhất Xứ Đoài bởi địa thế, phong cảnh và kiến trúc.
Đình So nằm tại làng So, xã Hưng Đạo (huyện Quốc Oai cũ), cách nội thành Hà Nội khoảng 20 km về phía tây. Đình lần đầu tiên được xây dựng vào năm 1667 (thời Hậu Lê), hơn trăm năm sau được chuyển về ở vị trí hiện nay và khắc bia lưu tại đình vào năm Cảnh Hưng 43 (1782).
Đình tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 4 ha, phía trước là hồ bán nguyệt, phía sau tựa vào núi, tạo nên thế đất hài hòa hiếm có, tựa sơn hướng thủy, phía ngoài xa là cánh đồng bãi ven sông Đáy. Không gian xanh mát, tĩnh lặng, tôn thêm vẻ uy nghiêm và cổ kính cho di tích.
Đình tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 4 ha, phía trước là hồ bán nguyệt, phía sau tựa vào núi, tạo nên thế đất hài hòa hiếm có, tựa sơn hướng thủy, phía ngoài xa là cánh đồng bãi ven sông Đáy. Không gian xanh mát, tĩnh lặng, tôn thêm vẻ uy nghiêm và cổ kính cho di tích.
25 thg 2, 2026
Hai ngôi chùa cổ kề nhau bên hồ Tây
Chùa Tảo Sách và chùa Vạn Niên nằm gần nhau ven hồ Tây, trở điểm đến tâm linh và vãn cảnh quen thuộc của nhiều người dân và du khách mỗi dịp Tết.
23 thg 2, 2026
Mật ngữ 200 năm tuổi của ngôi làng ngoại thành Hà Nội
Ngoài tiếng phổ thông, người làng Đa Chất, xã Đại Xuyên (huyện Phú Xuyên cũ) có một ngôn ngữ riêng với hàng nghìn từ lóng từng giúp giữ bí mật nghề đóng cối tre.
Bên dòng sông Nhuệ, những quán nước ở làng Đa Chất, xã Đại Xuyên thi thoảng lại vang lên những cuộc hội thoại lạ lẫm. Người lạ nghe cảm giác như "tiếng nước ngoài", nhưng lại phát ra từ những nông dân thuần hậu. Đó là "Tõi Xưỡn" - thứ tiếng lóng độc nhất vô nhị của vùng đất này.
"Dân làng tôi không học sách vở, chỉ truyền khẩu để giữ nếp", ông Nguyễn Văn Nghinh, 67 tuổi, một trong những người thạo "Tõi Xưỡn" nhất làng, mở đầu câu chuyện. Thứ tiếng này ngấm vào máu thịt ông từ thuở bé, khi theo cha chú đi đóng cối khắp các tỉnh phía Bắc.
Bên dòng sông Nhuệ, những quán nước ở làng Đa Chất, xã Đại Xuyên thi thoảng lại vang lên những cuộc hội thoại lạ lẫm. Người lạ nghe cảm giác như "tiếng nước ngoài", nhưng lại phát ra từ những nông dân thuần hậu. Đó là "Tõi Xưỡn" - thứ tiếng lóng độc nhất vô nhị của vùng đất này.
"Dân làng tôi không học sách vở, chỉ truyền khẩu để giữ nếp", ông Nguyễn Văn Nghinh, 67 tuổi, một trong những người thạo "Tõi Xưỡn" nhất làng, mở đầu câu chuyện. Thứ tiếng này ngấm vào máu thịt ông từ thuở bé, khi theo cha chú đi đóng cối khắp các tỉnh phía Bắc.
21 thg 2, 2026
Ngôi đền nghìn năm tuổi thờ 'ngựa thần', nổi tiếng linh thiêng ở Hà Nội
Là nơi trấn giữ phía Đông kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã mang vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm, cùng nhiều câu chuyện văn hóa - lịch sử gắn liền với Thủ đô Hà Nội.
Đền Bạch Mã tọa lạc tại số 76 phố Hàng Buồm, giữa khu phố tấp nập người qua lại. Bước chân qua cổng đền, du khách sẽ đi vào không gian tĩnh mịch, trong lành, tách biệt hẳn với sự ồn ào, nhộn nhịp bên ngoài.
Đây là nơi nhiều người dân, du khách lựa chọn ghé đến trong những ngày đầu năm mới Bính Ngọ 2026 để cầu bình an, may mắn.
Đền Bạch Mã tọa lạc tại số 76 phố Hàng Buồm, giữa khu phố tấp nập người qua lại. Bước chân qua cổng đền, du khách sẽ đi vào không gian tĩnh mịch, trong lành, tách biệt hẳn với sự ồn ào, nhộn nhịp bên ngoài.
Đây là nơi nhiều người dân, du khách lựa chọn ghé đến trong những ngày đầu năm mới Bính Ngọ 2026 để cầu bình an, may mắn.
'Xuyên không' ở ngôi làng cổ Hà Nội, nơi thời gian như ngủ quên
Cách trung tâm Hà Nội không xa, có những ngôi làng cổ dường như “ngủ quên” giữa nhịp sống hiện đại - nơi du khách có thể tìm kiếm cảm giác bình yên, đầy hoài niệm.
Trong kỳ nghỉ tết Nguyên đán Bính Ngọ, du khách có thể dành thời gian ghé thăm những ngôi làng cổ Hà Nội, không chỉ để săn những khung hình đẹp, đậm màu thời gian, mà còn lắng nghe và cảm nhận những câu chuyện văn hóa, nếp sống xưa vẫn âm thầm được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Trong kỳ nghỉ tết Nguyên đán Bính Ngọ, du khách có thể dành thời gian ghé thăm những ngôi làng cổ Hà Nội, không chỉ để săn những khung hình đẹp, đậm màu thời gian, mà còn lắng nghe và cảm nhận những câu chuyện văn hóa, nếp sống xưa vẫn âm thầm được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
18 thg 2, 2026
Bí ẩn thời niên thiếu của Hưng Đạo Đại vương và dấu tích ở chùa Thắng Nghiêm
Tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản 'Trần triều sự tích', cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
Hiện không có bộ chính sử nào cho biết về giai đoạn đầu đời của Trần Quốc Tuấn từ khi sinh ra cho đến năm 1251 - thời điểm ông lấy Thiên Thành công chúa. Cũng không có chính sử ghi Trần Quốc Tuấn sinh năm nào.
Tuy nhiên, tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản "Trần triều sự tích", đã cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của ông, gắn với thời gian ông ẩn cư, học tập và tu luyện tại ngôi chùa này.
Từ bản thần tích còn lưu giữ và đối chiếu với Đại Việt sử ký toàn thư, PGS.TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học) cho rằng có thể tạm thời ghi nhận Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 3 năm Tân Mão (1231). Cũng theo đó, khi Trần Quốc Tuấn khoảng 6 - 7 tuổi, sau sự việc cha ông là Trần Liễu chống triều đình (năm 1237), ông được mẹ nuôi, cũng là cô ruột là Thụy Bà công chúa đưa về ẩn cư tại chùa Thắng Nghiêm (Khúc Thủy). Ông ẩn cư và học tập dưới sự che chở của sư thầy trụ trì ngôi chùa và của mẹ nuôi, trong khoảng 12 - 13 năm (1237 - 1250).
Nhận định của PGS.TS Nguyễn Minh Tường được nhiều nhà khoa học khác đánh giá cao và cho rằng kết luận bước đầu Trần Quốc Tuấn đã từng ẩn cư học tập, tu luyện ở chùa Thắng Nghiêm là rất có cơ sở. Được biết, Trần triều sự tích là bản thần tích được chép lại vào cuối thế kỷ XIX. Đây được đánh giá là tài liệu đặc biệt, có cốt lõi lịch sử nhất định.
Tuy nhiên, PGS.TS Trần Thị Vinh (Viện Sử học) cũng đưa ra cảnh báo các bản thần tích hiện còn nói chung cần phải được thẩm định kỹ về nội dung và xác định rõ về niên đại mới bảo đảm độ tin cậy. Hiện nay, phần nhiều di tích đều bị mất thần tích và nhiều địa phương đang tìm cách để khôi phục. Song đã có khá nhiều chuyện "râu ông nọ cắm cằm bà kia", thậm chí làm méo mó lịch sử bởi bệnh "sính" sự tích nhân thần có công với nước.
Tư liệu thần tích có vai trò quan trọng đối với việc nghiên cứu, bảo tồn và tái tạo di tích. Song cũng cần thận trọng khi sử dụng các tài liệu này. Bản thần tích Trần triều sự tích được lưu giữ từ lâu tại chùa Thắng Nghiêm là tài liệu quý nhưng chưa được kiểm chứng nên chưa có độ tin cậy...
Được biết, cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cũng đã từng đề cập đến vấn đề này trong một nghiên cứu. Dù chưa đưa ra khẳng định, song với tầm ảnh hưởng sâu rộng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đối với lịch sử thì chắc chắn sẽ có thêm nhiều nghiên cứu khác để đưa ra một lời giải về bí ẩn thời niên thiếu của ông.
Anh Nguyễn Văn Cường, Phó Trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cho biết, dù thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo chưa được khẳng định, song những gì ông đóng góp đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông để bảo vệ bờ cõi Đại Việt đã được sử sách ghi chép khá chi tiết. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 1 năm 1258, khoảng năm 1262, Trần Hưng Đạo về Vạn Kiếp xây dựng phòng tuyến quân doanh phòng bị. Đây cũng là những tư liệu gián tiếp chứ không có tư liệu trực tiếp nào khẳng định ông về năm nào.
Sau khi giặc trở lại lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (cuối năm 1287-1288) đều thất bại khiến chúng từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt.
Sử sách ghi lại, sau khi đất nước thanh bình, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến chọn Vạn Kiếp - nơi trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông là đại bản doanh của ông cùng tướng sĩ làm nơi sinh sống.
Ngày 20/8 âm lịch năm Hưng Long thứ 8 (1300), Hưng Đạo Đại vương từ trần tại Tư dinh Vạn Kiếp. Tương truyền, trước khi hóa Thánh, Hưng Đạo Vương lên núi Mâm Xôi, 1 trong 9 ngọn núi thuộc dãy núi Trán Rồng phía sau đền Kiếp Bạc để từ biệt con dân. Khi Hưng Đạo Vương hóa Thánh về trời, nhân dân làng Kiếp, làng Bạc tiếc thương đã mang xôi lễ và 100 nén hương lên núi Mâm Xôi thờ phụng.
Theo văn bia tại di tích, đền Kiếp Bạc được xây dựng sau khi Hưng Đạo Đại vương qua đời năm 1300, vị trí đền ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc, trên khu đất rộng khoảng 13.500 m².
Như vậy, dù những cứ liệu về thời niên thiếu Trần Hưng Đạo sinh sống tại đâu vẫn còn nhiều điểm chưa được khẳng định, không có chính sử mà chỉ căn cứ vào bản "Trần triều sự tích", song phần lớn thời gian - gần 40 năm (khoảng từ năm 1262 cho đến khi ông qua đời), ông đã gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp - đại bản doanh của ông trong kháng chiến. Vạn Kiếp và các trận chiến đẩy lùi quân giặc hung hãn đến từ phương Bắc cũng làm nên tên tuổi của ông - Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy. Ảnh: ANTAMTOUR
Hiện không có bộ chính sử nào cho biết về giai đoạn đầu đời của Trần Quốc Tuấn từ khi sinh ra cho đến năm 1251 - thời điểm ông lấy Thiên Thành công chúa. Cũng không có chính sử ghi Trần Quốc Tuấn sinh năm nào.
Tuy nhiên, tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản "Trần triều sự tích", đã cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của ông, gắn với thời gian ông ẩn cư, học tập và tu luyện tại ngôi chùa này.
Từ bản thần tích còn lưu giữ và đối chiếu với Đại Việt sử ký toàn thư, PGS.TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học) cho rằng có thể tạm thời ghi nhận Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 3 năm Tân Mão (1231). Cũng theo đó, khi Trần Quốc Tuấn khoảng 6 - 7 tuổi, sau sự việc cha ông là Trần Liễu chống triều đình (năm 1237), ông được mẹ nuôi, cũng là cô ruột là Thụy Bà công chúa đưa về ẩn cư tại chùa Thắng Nghiêm (Khúc Thủy). Ông ẩn cư và học tập dưới sự che chở của sư thầy trụ trì ngôi chùa và của mẹ nuôi, trong khoảng 12 - 13 năm (1237 - 1250).
Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy được cho là nơi ẩn cư và học tập của Trần Quốc Tuấn trong khoảng 12 - 13 năm. Ảnh: ANTAMTOUR
Nhận định của PGS.TS Nguyễn Minh Tường được nhiều nhà khoa học khác đánh giá cao và cho rằng kết luận bước đầu Trần Quốc Tuấn đã từng ẩn cư học tập, tu luyện ở chùa Thắng Nghiêm là rất có cơ sở. Được biết, Trần triều sự tích là bản thần tích được chép lại vào cuối thế kỷ XIX. Đây được đánh giá là tài liệu đặc biệt, có cốt lõi lịch sử nhất định.
Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy và thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo đã từng được cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đề cập đến trong một nghiên cứu. Ảnh: ANTAMTOUR
Tuy nhiên, PGS.TS Trần Thị Vinh (Viện Sử học) cũng đưa ra cảnh báo các bản thần tích hiện còn nói chung cần phải được thẩm định kỹ về nội dung và xác định rõ về niên đại mới bảo đảm độ tin cậy. Hiện nay, phần nhiều di tích đều bị mất thần tích và nhiều địa phương đang tìm cách để khôi phục. Song đã có khá nhiều chuyện "râu ông nọ cắm cằm bà kia", thậm chí làm méo mó lịch sử bởi bệnh "sính" sự tích nhân thần có công với nước.
Tư liệu thần tích có vai trò quan trọng đối với việc nghiên cứu, bảo tồn và tái tạo di tích. Song cũng cần thận trọng khi sử dụng các tài liệu này. Bản thần tích Trần triều sự tích được lưu giữ từ lâu tại chùa Thắng Nghiêm là tài liệu quý nhưng chưa được kiểm chứng nên chưa có độ tin cậy...
Được biết, cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cũng đã từng đề cập đến vấn đề này trong một nghiên cứu. Dù chưa đưa ra khẳng định, song với tầm ảnh hưởng sâu rộng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đối với lịch sử thì chắc chắn sẽ có thêm nhiều nghiên cứu khác để đưa ra một lời giải về bí ẩn thời niên thiếu của ông.
Theo sử sách, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn có phần lớn thời gian gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp cho đến khi qua đời.
Anh Nguyễn Văn Cường, Phó Trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cho biết, dù thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo chưa được khẳng định, song những gì ông đóng góp đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông để bảo vệ bờ cõi Đại Việt đã được sử sách ghi chép khá chi tiết. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 1 năm 1258, khoảng năm 1262, Trần Hưng Đạo về Vạn Kiếp xây dựng phòng tuyến quân doanh phòng bị. Đây cũng là những tư liệu gián tiếp chứ không có tư liệu trực tiếp nào khẳng định ông về năm nào.
Sau khi giặc trở lại lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (cuối năm 1287-1288) đều thất bại khiến chúng từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt.
Sử sách ghi lại, sau khi đất nước thanh bình, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến chọn Vạn Kiếp - nơi trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông là đại bản doanh của ông cùng tướng sĩ làm nơi sinh sống.
Ngày 20/8 âm lịch năm Hưng Long thứ 8 (1300), Hưng Đạo Đại vương từ trần tại Tư dinh Vạn Kiếp. Tương truyền, trước khi hóa Thánh, Hưng Đạo Vương lên núi Mâm Xôi, 1 trong 9 ngọn núi thuộc dãy núi Trán Rồng phía sau đền Kiếp Bạc để từ biệt con dân. Khi Hưng Đạo Vương hóa Thánh về trời, nhân dân làng Kiếp, làng Bạc tiếc thương đã mang xôi lễ và 100 nén hương lên núi Mâm Xôi thờ phụng.
Theo văn bia tại di tích, đền Kiếp Bạc được xây dựng sau khi Hưng Đạo Đại vương qua đời năm 1300, vị trí đền ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc, trên khu đất rộng khoảng 13.500 m².
Như vậy, dù những cứ liệu về thời niên thiếu Trần Hưng Đạo sinh sống tại đâu vẫn còn nhiều điểm chưa được khẳng định, không có chính sử mà chỉ căn cứ vào bản "Trần triều sự tích", song phần lớn thời gian - gần 40 năm (khoảng từ năm 1262 cho đến khi ông qua đời), ông đã gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp - đại bản doanh của ông trong kháng chiến. Vạn Kiếp và các trận chiến đẩy lùi quân giặc hung hãn đến từ phương Bắc cũng làm nên tên tuổi của ông - Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
TIẾN HUY
4 thg 2, 2026
Bến hoa bên cầu Long Biên như hiện ra từ cổ tích ở Hà Nội
Khung cảnh rực rỡ ở bến hoa Phúc Xá (phường Hồng Hà, Hà Nội) thu hút đông đảo du khách tới chiêm ngưỡng, chụp ảnh.
1 thg 2, 2026
Có hẹn với phố cổ Hà Nội trải nghiệm không khí Tết xưa
Xem triển lãm, trải nghiệm văn hóa hay tham quan, check-in các nhà cổ và di tích phố cổ Hà Nội trước Tết Bính Ngọ là những hoạt động không thể bỏ lỡ.
Tết Nguyên đán 2026 đang tới gần, "ba sáu phố phường" Hà Nội đã náo nức rất nhiều sự kiện cũng như trang hoàng không gian để đón Tết, đón khách du lịch trong và ngoài nước.
Dưới đây là một số địa chỉ và cập nhật sự kiện văn hóa bạn không thể bỏ lỡ dịp này ở ngay trong khu vực phố cổ Hà Nội:
Trung tâm văn hóa nghệ thuật 22 Hàng Buồm
Nằm trong chuỗi hoạt động Tết Việt - Tết phố 2026, đến địa chỉ 22 phố Hàng Buồm, du khách có cơ hội bước vào không gian tái hiện Tết truyền thống và hội chợ Xuân.
Các gian hàng đặc sản ba miền Việt Nam, các sản phẩm thủ công mĩ nghệ, các gian nghệ thuật... được bày bán ngay trong không gian của hội quán Quảng Đông. Không chỉ là hội chợ Xuân, nơi mua sắm mà còn là nơi kể chuyện về từng sản vật, nông sản, đặc sản cũng như tục lệ đón Tết thuần Việt. Sự kiện kéo dài đến hết 17.3. Giá vé: 20.000 đồng/người.
Tết Nguyên đán 2026 đang tới gần, "ba sáu phố phường" Hà Nội đã náo nức rất nhiều sự kiện cũng như trang hoàng không gian để đón Tết, đón khách du lịch trong và ngoài nước.
Dưới đây là một số địa chỉ và cập nhật sự kiện văn hóa bạn không thể bỏ lỡ dịp này ở ngay trong khu vực phố cổ Hà Nội:
Trung tâm văn hóa nghệ thuật 22 Hàng Buồm
Nằm trong chuỗi hoạt động Tết Việt - Tết phố 2026, đến địa chỉ 22 phố Hàng Buồm, du khách có cơ hội bước vào không gian tái hiện Tết truyền thống và hội chợ Xuân.
Các gian hàng đặc sản ba miền Việt Nam, các sản phẩm thủ công mĩ nghệ, các gian nghệ thuật... được bày bán ngay trong không gian của hội quán Quảng Đông. Không chỉ là hội chợ Xuân, nơi mua sắm mà còn là nơi kể chuyện về từng sản vật, nông sản, đặc sản cũng như tục lệ đón Tết thuần Việt. Sự kiện kéo dài đến hết 17.3. Giá vé: 20.000 đồng/người.
22 thg 1, 2026
Cận cảnh bia điện Nam Giao - đàn tế trời đất Thăng Long xưa
Tấm bia đá duy nhất còn lại của đàn Nam Giao Thăng Long nơi vua tế trời cầu mưa thuận gió hòa nhận là Bảo vật quốc gia.
Bia điện Nam Giao hiện nằm trong quần thể hệ thống Trưng bày ngoài trời và không gian tưởng niệm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hiện vật quý hiếm này là một minh chứng cho lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Theo Đại Việt Sử ký toàn thư viết: “Giáp Tuất, năm thứ 15 (1154) tháng 9, vua ngự ra cửa nam thành Đại La xem đắp đàn Viên Khâu” (Nam Giao). Như vậy, chính vào thời Lý, đàn tế trời (còn được gọi là đàn Hoàn Khâu hay Viên Khâu) đã được lập tại kinh đô Thăng Long.
Sang đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1643) đã cho khôi phục các nghi lễ tế tại đàn này và gọi là Nam Giao. Cũng theo Đại Việt Sử ký toàn thư: “Trước đây, đàn Nam Giao đã có điện, nhưng quy mô còn nhỏ hẹp. Đến đây Vương sai làm thêm.
Bia điện Nam Giao hiện nằm trong quần thể hệ thống Trưng bày ngoài trời và không gian tưởng niệm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hiện vật quý hiếm này là một minh chứng cho lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Theo Đại Việt Sử ký toàn thư viết: “Giáp Tuất, năm thứ 15 (1154) tháng 9, vua ngự ra cửa nam thành Đại La xem đắp đàn Viên Khâu” (Nam Giao). Như vậy, chính vào thời Lý, đàn tế trời (còn được gọi là đàn Hoàn Khâu hay Viên Khâu) đã được lập tại kinh đô Thăng Long.
Sang đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1643) đã cho khôi phục các nghi lễ tế tại đàn này và gọi là Nam Giao. Cũng theo Đại Việt Sử ký toàn thư: “Trước đây, đàn Nam Giao đã có điện, nhưng quy mô còn nhỏ hẹp. Đến đây Vương sai làm thêm.
20 thg 1, 2026
Mộc Steak & Pasta: "Trạm sạc" năng lượng ngọt ngào giữa lòng Hà Nội
Giữa nhịp sống hối hả của Hà Nội, đôi khi tất cả những gì chúng ta cần là một góc nhỏ yên bình, nơi tiếng xèo xèo của miếng bò trên đá nóng có thể thay thế cho tiếng còi xe ồn ã. Mộc Steak & Pasta là một điểm hẹn đầy cảm hứng cho những tâm hồn yêu ẩm thực Âu tinh tế.
Nằm tại số 36 ngõ 12 Núi Trúc (phường Giảng Võ), Mộc Steak & Pasta mang đến một không gian gần gũi đúng như cái tên của mình. Không quá xa hoa, cầu kỳ, quán đón khách bằng sự chân thành từ không gian ấm cúng, ánh đèn vàng dịu nhẹ cho đến cách bài trí bàn ghế gỗ mộc mạc. Đây là điểm đến lý tưởng cho những buổi tối hẹn hò lãng mạn, những bữa trưa nhanh gọn nhưng vẫn đủ chất cho dân văn phòng, hay đơn giản là nơi để các gia đình nhỏ tại khu vực phường Giảng Võ, Ngọc Hà (Ba Đình cũ) sum vầy mỗi dịp cuối tuần.
Nằm tại số 36 ngõ 12 Núi Trúc (phường Giảng Võ), Mộc Steak & Pasta mang đến một không gian gần gũi đúng như cái tên của mình. Không quá xa hoa, cầu kỳ, quán đón khách bằng sự chân thành từ không gian ấm cúng, ánh đèn vàng dịu nhẹ cho đến cách bài trí bàn ghế gỗ mộc mạc. Đây là điểm đến lý tưởng cho những buổi tối hẹn hò lãng mạn, những bữa trưa nhanh gọn nhưng vẫn đủ chất cho dân văn phòng, hay đơn giản là nơi để các gia đình nhỏ tại khu vực phường Giảng Võ, Ngọc Hà (Ba Đình cũ) sum vầy mỗi dịp cuối tuần.
11 thg 1, 2026
Khai mạc trưng bày chuyên đề "Ngựa về phố" tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Ngày 8/1, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám khai mạc trưng bày chuyên đề "Ngựa về phố" nhân dịp chào đón năm mới Bính Ngọ 2026.
Trưng bày giới thiệu các tác phẩm của nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Đặng Minh Tâm; họa sĩ Lê Huy và nhóm Lamphong Studio cùng hình ảnh, hiện vật về ngựa đến từ một số không gian văn hóa khác.
Các tác phẩm và tư liệu trưng bày thể hiện nhiều cách tiếp cận về hình tượng ngựa, từ chiều sâu nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ tạo hình hội họa đương đại đến các hình thức nghệ thuật sắp đặt sáng tạo. Qua đó, trưng bày khắc họa hình ảnh con ngựa vừa gần gũi với truyền thống, vừa mang tinh thần thời đại, phản ánh khát vọng bứt phá trong tư duy, hành động và sáng tạo của xã hội đương đại.
Các tác phẩm và tư liệu trưng bày thể hiện nhiều cách tiếp cận về hình tượng ngựa, từ chiều sâu nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ tạo hình hội họa đương đại đến các hình thức nghệ thuật sắp đặt sáng tạo. Qua đó, trưng bày khắc họa hình ảnh con ngựa vừa gần gũi với truyền thống, vừa mang tinh thần thời đại, phản ánh khát vọng bứt phá trong tư duy, hành động và sáng tạo của xã hội đương đại.
8 thg 1, 2026
Cốm Hà Nội – Từ di sản ẩm thực đến tinh hoa quốc gia
Nếu Phở là linh hồn của ẩm thực đường phố Việt Nam, thì Cốm chính là hiện thân cho sự thanh tao và tinh tế của văn hóa ẩm thực Hà Nội. Cốm không chỉ là món ăn, mà là một cảm thức về mùa Thu, một di sản gắn liền với những làng nghề cổ kính như Mễ Trì (Phường Từ Liêm, Hà Nội).
Giá trị cốt lõi của Cốm Hà Nội nằm ở quy trình chế biến gần như hoàn hảo. Đây là một món quà độc quyền của mùa Thu, khi những hạt lúa nếp non còn đang mọng sữa được thu hoạch đúng thời điểm. Chỉ sự tinh tế và kinh nghiệm lâu năm mới giúp người nghệ nhân cốm biết được khoảnh khắc lúa đạt độ dẻo và thơm hoàn hảo nhất.
26 thg 12, 2025
Cơ hội để hồi sinh và phát triển của tranh dân gian Đông Hồ
Làng Đông Hồ từ lâu đã nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian, mang đậm
bản sắc văn hóa truyền thống. Trong dòng chảy đời sống hiện đại, dòng
tranh Đông Hồ từng đứng trước nguy cơ mai một khi chỉ còn 3 gia đình tâm
huyết, bám trụ với nghề. Trong 3 gia đình này, có 3 nghệ nhân được coi
là “di sản sống” của làng tranh Đông Hồ, đó là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn
Đăng Chế, Nguyễn Hữu Quả và Nguyễn Thị Oanh. Ảnh: Báo ảnh Việt Nam
21 thg 12, 2025
Linh vật của phố
Câu chuyện linh thú khoác cho đô thị một chất liệu huyền hoặc mang tính văn hóa dân gian khiến cho không gian văn hóa truyền thống Hà Nội có nhiều biến thể sinh động. Chúng cũng dự phần vào việc tạo ra một đường dẫn “mềm” kết nối với quá khứ, như một loại tự điển giúp người hôm nay đọc được hồn người xưa.
Nhiều người đã quen với sự tích Lê Lợi trả gươm cho thần Kim Quy (rùa vàng) gắn với hồ Hoàn Kiếm và nhiều thế hệ đã được ngắm những con rùa mai mềm to lớn sống trong hồ này. Trong hồ còn gò Quy Sơn, nơi có tháp Rùa đã thành quen thuộc với hàng triệu người Việt.
Con rùa thật cuối cùng đã chết cách đây gần 10 năm. Nhưng cái hình bóng để lại thì vẫn còn sâu đậm: “Hồ Gươm xanh màu xanh cổ tích. Con rùa vàng gửi bóng ở trên mây” (thơ Nguyễn Duy). Rùa vàng Kim Quy còn xuất hiện trong nhiều truyền thuyết khác trên mảnh đất Hà Nội như câu chuyện giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Nhưng rùa thần cũng chỉ là một loài trong bộ sưu tập linh thú đầy huyền thoại của mảnh đất này.
Nhiều người đã quen với sự tích Lê Lợi trả gươm cho thần Kim Quy (rùa vàng) gắn với hồ Hoàn Kiếm và nhiều thế hệ đã được ngắm những con rùa mai mềm to lớn sống trong hồ này. Trong hồ còn gò Quy Sơn, nơi có tháp Rùa đã thành quen thuộc với hàng triệu người Việt.
Con rùa thật cuối cùng đã chết cách đây gần 10 năm. Nhưng cái hình bóng để lại thì vẫn còn sâu đậm: “Hồ Gươm xanh màu xanh cổ tích. Con rùa vàng gửi bóng ở trên mây” (thơ Nguyễn Duy). Rùa vàng Kim Quy còn xuất hiện trong nhiều truyền thuyết khác trên mảnh đất Hà Nội như câu chuyện giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Nhưng rùa thần cũng chỉ là một loài trong bộ sưu tập linh thú đầy huyền thoại của mảnh đất này.
13 thg 12, 2025
'Báu vật' trong ngôi nhà cổ hơn 100 tuổi, gìn giữ qua 4 thế hệ ở Hà Nội
Ông Tứ là thế hệ thứ 4 sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà cổ nhuốm màu thời gian, nằm ở làng Cựu, xã Chuyên Mỹ (trước đây là xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên) Hà Nội.
Vài năm gần đây, làng Cựu là điểm đến thu hút nhiều nhiếp ảnh gia, du khách bởi vẻ đẹp bình yên, hoài cổ. Đặc biệt, tại ngôi làng còn có nhiều ngôi nhà tuổi đời hơn trăm năm, với kiến trúc giao thoa Việt - Pháp độc đáo.
Ngôi nhà của ông Nguyễn Thiện Tứ (sinh năm 1945) là một trong những ngôi nhà cổ được gìn giữ, bảo tồn cẩn thận nhất trong làng. Ở tuổi 80, mỗi ngày, ông Tứ vẫn cần mẫn chăm sóc nhà cùng khu vườn rợp bóng cây, say sưa sưu tầm tài liệu về làng Cựu và vui vẻ đón tiếp những vị khách muốn tới chiêm ngưỡng, tìm hiểu về ngôi nhà.
Vài năm gần đây, làng Cựu là điểm đến thu hút nhiều nhiếp ảnh gia, du khách bởi vẻ đẹp bình yên, hoài cổ. Đặc biệt, tại ngôi làng còn có nhiều ngôi nhà tuổi đời hơn trăm năm, với kiến trúc giao thoa Việt - Pháp độc đáo.
Ngôi nhà của ông Nguyễn Thiện Tứ (sinh năm 1945) là một trong những ngôi nhà cổ được gìn giữ, bảo tồn cẩn thận nhất trong làng. Ở tuổi 80, mỗi ngày, ông Tứ vẫn cần mẫn chăm sóc nhà cùng khu vườn rợp bóng cây, say sưa sưu tầm tài liệu về làng Cựu và vui vẻ đón tiếp những vị khách muốn tới chiêm ngưỡng, tìm hiểu về ngôi nhà.
27 thg 11, 2025
Hàng Đào xích nhiễm
Những cái tên có màu sắc trong tên phố phường hay địa danh ở Hà Nội đủ vẽ ra một bức tranh đô thị cổ xưa, trộn lẫn giữa nhu cầu thực tế đời sống với những biểu tượng lễ nghi.
Trong khung cảnh Hà Nội ngày nay, ta dễ dàng mô tả thành phố với màu sắc nhiều khi đã thành khuôn mẫu: màu nước sông Hồng đỏ phù sa, hồ Hoàn Kiếm xanh màu tảo nên từng có tên hồ Lục Thủy, màu vàng các biệt thự thời Pháp, các mùa lá như “cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ”… Trong các địa danh hay tên phố, một số cái tên có từ chỉ thị màu.
Những tên phố hay địa danh đô thị ở Việt Nam có một tác dụng to lớn là phần nào hé mở xuất xứ phong tục đời sống, giúp người đời sau hình dung về tổ chức không gian đô thị. Trong bối cảnh Hà Nội, nói đến phố cổ là nói đến các phố Hàng, chủ yếu nằm trong dân cư phía đông hoàng thành Thăng Long cũng như thành Hà Nội sau này, từng được gọi là Đông Thành. Chúng là kết quả của hình thái đời sống một đô thị pha trộn giữa phường thủ công, phường nghề nông và phường buôn bán. Mỗi tên phố cung cấp thông tin chức năng khá rõ ràng. Qua năm tháng, chúng trở thành một loại di sản mà người Hà Nội tự hào.
Trong khung cảnh Hà Nội ngày nay, ta dễ dàng mô tả thành phố với màu sắc nhiều khi đã thành khuôn mẫu: màu nước sông Hồng đỏ phù sa, hồ Hoàn Kiếm xanh màu tảo nên từng có tên hồ Lục Thủy, màu vàng các biệt thự thời Pháp, các mùa lá như “cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ”… Trong các địa danh hay tên phố, một số cái tên có từ chỉ thị màu.
Những tên phố hay địa danh đô thị ở Việt Nam có một tác dụng to lớn là phần nào hé mở xuất xứ phong tục đời sống, giúp người đời sau hình dung về tổ chức không gian đô thị. Trong bối cảnh Hà Nội, nói đến phố cổ là nói đến các phố Hàng, chủ yếu nằm trong dân cư phía đông hoàng thành Thăng Long cũng như thành Hà Nội sau này, từng được gọi là Đông Thành. Chúng là kết quả của hình thái đời sống một đô thị pha trộn giữa phường thủ công, phường nghề nông và phường buôn bán. Mỗi tên phố cung cấp thông tin chức năng khá rõ ràng. Qua năm tháng, chúng trở thành một loại di sản mà người Hà Nội tự hào.
26 thg 11, 2025
Dã quỳ trải vàng lối lên núi Ba Vì
Vào tháng 11, Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội) lại khoác lên mình 'tấm áo' vàng rực rỡ của mùa hoa dã quỳ. Trong tiết trời trong xanh, mát mẻ, nhiều du khách đã tìm đến đây để chiêm ngưỡng và ghi lại những khoảnh khắc đẹp với loài hoa này.
Theo thông tin từ Vườn quốc gia Ba Vì, dã quỳ (còn gọi là hướng dương dại) là loài hoa đặc trưng của Ba Vì, nở mỗi dịp cuối thu, đầu đông. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng sắc vàng trải dài suốt cung đường 12,5 km từ cao điểm 100 lên tới đỉnh núi.
Theo thông tin từ Vườn quốc gia Ba Vì, dã quỳ (còn gọi là hướng dương dại) là loài hoa đặc trưng của Ba Vì, nở mỗi dịp cuối thu, đầu đông. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng sắc vàng trải dài suốt cung đường 12,5 km từ cao điểm 100 lên tới đỉnh núi.
20 thg 11, 2025
'Thiên đường ẩm thực’ quanh Nhà thờ Lớn Hà Nội
Nhà thờ Lớn Hà Nội là điểm đến hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế. Không chỉ có lịch sử lâu đời, kiến trúc cổ kính và độc đáo, khu phố quanh nhà thờ còn được xem là "thiên đường ẩm thực" níu chân người yêu Thủ đô.
15 thg 11, 2025
Đình Yên Phú: Từ bến sông tới phố hàng
Giữa nhịp phố phường tấp nập hôm nay, ít ai hình dung nơi góc Hàng Mã – Hàng Rươi từng là bến sông Tô Lịch rộn ràng thuyền buôn, là xóm chài Yên Phú xưa bên bờ nước. Từ bến sông thành phố hàng, từ làng nghề tới đô thị, đình Yên Phú vẫn lặng lẽ giữ hồn quá khứ giữa phố phường, kể lại câu chuyện về một Hà Nội từ sông nước mà thành.
Từ xóm chài đến bến sông thuyền buôn nhộn nhịp
Trong sách Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX của cụ Nguyễn Văn Uẩn (1912-1991), cho biết dấu tích cổ xưa quanh khu phố Hàng Lược, Hàng Mã, Hàng Cót, Hàng Rươi, nằm quanh bến sông Tô Lịch, khi ấy sông vẫn rộng, thuyền mành xứ Nghệ từ sông Hồng đi sâu vào tận Phủ Từ, nơi con sông dừng lại hào nước bao quan tường Thành Hà Nội xưa. Ta có thể tưởng tượng được cảnh thuyền bè nhộn nhịp gữa hai bên bờ phố xá sầm uất. Chỉ một đoạn sông ngắn mà trên bờ có tới năm ngôi đền miếu đình chùa và mấy chỗ họp chợ.
Từ xóm chài đến bến sông thuyền buôn nhộn nhịp
Trong sách Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX của cụ Nguyễn Văn Uẩn (1912-1991), cho biết dấu tích cổ xưa quanh khu phố Hàng Lược, Hàng Mã, Hàng Cót, Hàng Rươi, nằm quanh bến sông Tô Lịch, khi ấy sông vẫn rộng, thuyền mành xứ Nghệ từ sông Hồng đi sâu vào tận Phủ Từ, nơi con sông dừng lại hào nước bao quan tường Thành Hà Nội xưa. Ta có thể tưởng tượng được cảnh thuyền bè nhộn nhịp gữa hai bên bờ phố xá sầm uất. Chỉ một đoạn sông ngắn mà trên bờ có tới năm ngôi đền miếu đình chùa và mấy chỗ họp chợ.
Sự dang dở của con phố văn chương
Vai trò của Văn Miếu - Quốc Tử Giám quan trọng trong lịch sử các triều đại Việt Nam, đặc biệt ở Thăng Long - Hà Nội, để khi ra đời, đã nằm sát ngay khu vực Hoàng thành. Ngày nay, di tích này trở thành một di sản trong lòng đô thị Hà Nội, để rồi gần nhất, một đơn vị hành chính mới cấp phường mang tên kép trên. Đây cũng là phường duy nhất ở Việt Nam có tên như vậy.
Mặc dù có lịch sử lâu đời, khung cảnh khu vực này cho đến giờ vẫn là kết quả của một quá trình đô thị hóa chưa hoàn thiện. Dấu vết những đường phố chưa được kết nối, các tên phố và xóm làng cũ trải qua những biến đổi phản ánh sự dang dở ấy. Lịch sử quá trình đổi tên đường phố thể hiện sự biến đổi của ý thức hệ, tư duy hành chính lẫn sự kỳ vọng biểu tượng hóa không gian văn hóa đô thị.
Mặc dù có lịch sử lâu đời, khung cảnh khu vực này cho đến giờ vẫn là kết quả của một quá trình đô thị hóa chưa hoàn thiện. Dấu vết những đường phố chưa được kết nối, các tên phố và xóm làng cũ trải qua những biến đổi phản ánh sự dang dở ấy. Lịch sử quá trình đổi tên đường phố thể hiện sự biến đổi của ý thức hệ, tư duy hành chính lẫn sự kỳ vọng biểu tượng hóa không gian văn hóa đô thị.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)




.jpg)
.jpg)

.jpg)










