Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh niên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh niên. Hiển thị tất cả bài đăng

15 thg 2, 2026

Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Huyền tích Phù Sơn tự

Giữa cánh đồng mênh mông bát ngát, từ xa đã nhìn thấy tượng Phật Quan Âm và Phật Di Đà cao chừng 30 m, uy nghi sừng sững. Đó là Phù Sơn tự (còn gọi là Núi Nổi), tọa lạc tại giồng Trà Dên, thuộc xã Tân Thạnh, TX.Tân Châu, An Giang.

Chuyện chiếc thuyền bị chìm

Phù Sơn tự là ngôi chùa không xưa lắm nhưng chứa nhiều câu chuyện kỳ bí, có thể bổ sung vào kho tàng huyền thoại Thất Sơn. Núi Nổi thật ra chỉ là ngọn đồi nhỏ cao chừng 10 m so với mặt ruộng, bao gồm đất và đá chất chồng lên nhau trên một diện tích chưa tới 1 ha. Dân gian gọi là Núi Nổi theo truyền thuyết khá ly kỳ, vì mỗi năm vào mùa nước nổi tràn đồng, ngọn núi này chưa bao giờ bị ngập. Chẳng hạn, trận lũ lịch sử năm 2000, toàn vùng châu thổ sông Cửu Long bị ngập lụt nhưng đỉnh Núi Nổi vẫn "bất khả xâm phạm".

Phù Sơn tự. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Dấu vết xưa ở Giồng Thành

Nằm giữa ngôi vườn xanh mát ở P. Long Sơn, TX.Tân Châu (An Giang), Long Hưng tự còn có tên khác là chùa Giồng Thành. Đây là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng tại An Giang và cũng là nơi ghi dấu lịch sử của tiền nhân thời khai hoang, mở cõi.

Dấu vết thành xưa

Trước năm 1960, chùa Giồng Thành ở giữa cánh đồng cô tịch, bên phải rạch Cái Vừng. Đường vô chùa phải qua con lộ đất hai bên trồng nhiều cây to bóng mát. Bấy giờ, dân địa phương xem ngôi chùa là một thắng cảnh của Tân Châu. Mặc dù mang tên Long Hưng tự nhưng ít phổ biến, người ta biết nhiều với tên Giồng Thành vì ngôi chùa nằm ngay vị trí cái nền thành cũ ngày xưa. Theo địa bạ Minh Mạng năm 1836, ở thôn Long Sơn có 2 sở đất lập thổ bảo, tức thành đắp bằng đất. Sau này người ta còn phát hiện vài di tích như hào thành và nền cột cờ xung quanh chùa.

Chùa Giồng Thành còn có tên Long Hưng cổ tự. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Ngôi đình trăm cột trên đất cù lao

Trải qua hàng trăm năm, dù thời gian có biến đổi nhưng nhiều di tích vẫn tồn tại, lưu dấu một thời tiền nhân đi mở cõi đất phương Nam.

Tọa lạc ở ấp Long Hậu, xã Long Khánh A, H.Hồng Ngự (Đồng Tháp), đình Long Khánh được vua Tự Đức ban sắc phong Bổn cảnh Thành hoàng ngày 29.11.1852. Tuy nhiên, do nằm trên đất cù lao, thế đất không ổn định, ngôi đình phải nhiều lần di dời. Hoành phi, câu đối, các đồ tự khí xưa dần dần hư hỏng, thất lạc.

Ngôi đình có hơn 100 cột. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

4 thg 2, 2026

Puppy Farm - Nông Trại Cún Đà Lạt: Nơi mùa xuân chạm vào từng giác quan

Giữa cao nguyên lộng gió, khi Đà Lạt vừa kịp cất tiếng thì thầm của mùa xuân, Puppy Farm - Nông Trại Cún Đà Lạt mở ra một không gian đón Tết Bính Ngọ đầy bất ngờ và thú vị.

Không gian rực rỡ sắc xuân tại Puppy Farm. ẢNH: LÂM VIÊN

Trên khu đất rộng hơn 4 ha, nơi những rừng thông già còn vương sương sớm, mùa xuân không chỉ hiện diện qua sắc hoa mà còn lan tỏa trong từng trải nghiệm, từng nhịp vui sống chậm rãi, an yên.

3 thg 2, 2026

Điểm hẹn mùa xuân giữa lòng phố núi

Giữa nhịp xuân Bính Ngọ 2026, Nông trại cổ tích - Langfarm Center trở thành điểm hẹn độc đáo, nơi câu chuyện cổ tích hòa quyện đời sống hiện đại. Không gian tham quan, vui chơi, ẩm thực và mua sắm được kết nối trong hành trình trải nghiệm trọn vẹn dành cho du khách muôn phương.

Không gian cổ tích giữa lòng phố núi

Cách Nhà thờ Con Gà Đà Lạt chỉ khoảng 3 km, Langfarm Center hiện ra với kiến trúc ấn tượng, lấy cảm hứng từ dãy Lang Biang hùng vĩ - biểu tượng của cao nguyên Lâm Viên. Công trình không chỉ gây ấn tượng mà còn gửi gắm thông điệp về niềm tự hào vùng đất, về khát vọng vươn lên bền bỉ của thương hiệu Langfarm - một cái tên đã gắn bó với đặc sản Đà Lạt suốt hơn một thập niên qua.

Nông trại cổ tích - Langfarm Center gây ấn tượng với kiến trúc độc đáo. ẢNH: LÂM VIÊN

2 thg 2, 2026

Ana Mandara Đà Lạt - Bảo tồn nguyên vẹn kiến trúc Pháp cổ giữa lòng Đà Lạt

Giữa trung tâm thành phố Đà Lạt có một khoảng xanh tự nhiên ôm ấp những căn biệt thự Pháp cổ với tuổi đời gần trăm năm tuổi. Khu biệt thự Ana Mandara Đà Lạt gồm 19 căn biệt thự được bảo tồn và lưu giữ trọn vẹn nét kiến trúc Pháp với mái ngói nâu gạch nung và tường vàng cổ kính đã trở thành địa điểm nghỉ dưỡng không thể bỏ qua của du khách thập phương.

Lịch sử hình thành khu cư xá Pháp cổ tại Đà Lạt

Ngược thời gian trở về những năm 1920, đại tá Jean O'neil - phục vụ quân đội viễn chinh Pháp dưới thời Toàn Quyền Doumer, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân ngũ, ông đã quyết định chọn vùng đất Cam Ly, một khu vực hoang sơ và yên bình phía tây bắc Đà Lạt, để lập trang trại và xây dựng đập thủy điện cung cấp nước cho khu vực. Chính tại nơi đây, ông đã đặt nền móng cho khu cư xá Lê Lai - tiền thân của Ana Mandara Đà Lạt ngày nay.

27 thg 1, 2026

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Khởi nghĩa Hương Khê và thủ lĩnh Phan Đình Phùng

Phan Đình Phùng, hiệu Châu Phong, tự Tôn Cát, sinh năm 1847 tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, H.La Sơn, phủ Đức Thọ (nay thuộc xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) trong một gia đình nổi tiếng thi thư, có tới mười hai đời nối nhau đỗ đạt và ra làm quan.

Một người cương trực

Năm 29 tuổi (1876), Phan Đình Phùng thi đỗ cử nhân khoa Bính Tý, năm sau (1877) đỗ Tiến sĩ.

Phan Đình Phùng ra làm quan, nhanh chóng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng. Do đức tính liêm khiết và cương trực, ông được vua Tự Đức cho giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, một vị trí có quyền chỉ trích các quan lại đồng liêu, dẫn đến việc loại bỏ được nhiều kẻ bất tài, tham nhũng. Vua Tự Đức đã từng khen ngợi: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được).

Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.

Chân dung Phan Đình Phùng. Ảnh: TL

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Hoàng Đình Kinh - thủ lĩnh Tày kiên cường

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, thủ lĩnh người Tày Hoàng Đình Kinh chọn núi Tinh Lãng (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) làm căn cứ chính cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Nơi này có địa thế hiểm trở, thuận lợi cho phòng thủ và tổ chức lực lượng kháng chiến lâu dài.

Hoàng Đình Kinh (còn gọi là Cai Kinh), người dân tộc Tày, sinh năm 1830 tại xã Hòa Lạc, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Hoàng Đình Khoa, làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông thay cha làm cai tổng nên còn có tên gọi là Cai Kinh.

Núi Cai Kinh, nơi thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Đình Kinh xây dựng căn cứ kháng Pháp. ẢNH: TRƯƠNG HẰNG

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Nguyễn Duy Hiệu và Nghĩa hội Quảng Nam

Nghĩa hội hình thành

Trần Văn Dư húy Tự Dư, thụy Hoán Nhược, sinh năm Kỷ Hợi (1839) tại làng An Mỹ Tây, H.Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay thuộc xã Tây Hồ, TP.Đà Nẵng), trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ (1858), đỗ Cử nhân ân khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875).

Chân dung Nguyễn Duy Hiệu. Ảnh: T.L

Cuối năm Quý Mùi (1884), Trần Văn Dư được điều về Quảng Nam giữ chức Sơn phòng sứ. Sơn Phòng là một tổ chức quân sự đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và kiểm soát các vùng biên giới, miền núi hiểm trở của đất nước. Vì vậy, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (tháng 7.1885), triều đình do Hoàng Thái hậu Từ Dụ nhiếp chính có xu hướng hòa hoãn với Pháp, nhận thấy việc Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ là điều bất lợi nên ra dụ điều chuyển ông vào làm Bố chính sứ Bình Thuận và cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu lên thay. Trần Văn Dư khước từ không nhận chỉ dụ, tuy vẫn bàn giao chức vụ, rồi bỏ về quê, không hợp tác với triều đình.

40 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Mai Xuân Thưởng phất cao cờ nghĩa

Phong trào Cần Vương ở Bình Định (1885 - 1887) là một bộ phận quan trọng của phong trào Cần Vương cả nước với đặc điểm nổi bật là hưởng ứng sớm, phát triển mạnh mẽ, có quy mô lớn và mang tính nhân dân sâu rộng.

Đào Doãn Địch, người mở đầu

Người đầu tiên tổ chức lực lượng nghĩa binh hưởng ứng dụ Cần Vương ở Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai) là Đào Doãn Địch. Ông sinh năm Quý Tỵ (1833), người làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay thuộc xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai.

Ngày 5.7.1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), ban chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân đứng lên chống Pháp. Đào Doãn Địch được Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, người cầm đầu phe chủ chiến trong triều đình, sai về Bình Định, làm nhiệm vụ phổ biến chiếu Cần Vương, thăm dò tình hình địch và tổ chức lực lượng kháng chiến.

Lối vào một pháo đài trong thành Bình Định, nơi nghĩa quân Cần Vương Bình Định từng đánh chiếm vào năm 1885. ẢNH: TƯ LIỆU THẬP NIÊN 1920

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Lê Thành Phương và cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên

Tháng 7.1885, khi chiếu Cần Vương được đưa đến Phú Yên, nhiều sĩ phu, văn thân yêu nước đứng ra thành lập các đạo quân ứng nghĩa để chống giặc, trong đó có Thống soái Bình Tây Lê Thành Phương.

Thủ lĩnh nghĩa quân tài ba

Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh, tỉnh Phú Yên cũ (nay là thôn Mỹ Phú, xã Ô Loan, tỉnh Đắk Lắk), là con thứ sáu trong 8 người con của cụ ông Lê Thanh Cao và cụ bà Nguyễn Thị Minh.

Đền Lê Thành Phương. Ảnh: Tư liệu Ban quản lý

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Quyết tử chiến đấu ở căn cứ Ba Đình

Cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất bại, nhưng tên tuổi Đinh Công Tráng và các nghĩa sĩ Cần Vương mãi mãi khắc ghi vào lịch sử giữ nước oai hùng.

Ông Chánh tổng yêu nước

Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần (1842), tại làng Tràng Xá, nay là xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình. Khi Pháp đưa quân xâm chiếm Bắc kỳ lần thứ 2 (năm 1882), Đinh Công Tráng (khi đó đang là Chánh tổng) tình nguyện gia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm, rồi tham gia trận Cầu Giấy ngày 19.5.1883, đánh bại đội quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy.

Đinh Công Tráng. Ảnh: T.L

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy

Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, hai thủ lĩnh Đinh Gia Quế và Nguyễn Thiện Thuật đã lãnh đạo người dân vùng Bãi Sậy (Hưng Yên) đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Cờ nghĩa của Đinh Gia Quế

Đinh Gia Quế (1825 - 1885), còn được biết đến với tên gọi Đổng Quế, là vị thủ lĩnh tối cao đầu tiên của phong trào vũ trang chống Pháp tại Bãi Sậy vào cuối thế kỷ 19. Ông sinh ngày 10.12.1825 (tức ngày 1.11 năm Ất Dậu) tại làng Nghiêm Xá, phủ Thường Tín (nay thuộc TP.Hà Nội). Thuở còn trẻ, Đinh Gia Quế theo con đường Nho học và đỗ Khóa sinh. Sau đó, ông chuyển đến làng Thọ Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) để dạy học, rồi thăng tiến qua các chức vụ Chánh tổng và Chánh tuần huyện Đông Yên.

Nguyễn Thiện Thuật. Ảnh: Tư liệu

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025) Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên

Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên trong cả nước nổ ra tại Quảng Ngãi do Chánh tướng Lê Trung Đình cùng hai phó tướng là Nguyễn Tự Tân và Nguyễn Tấn Kỳ lãnh đạo.

Ba vị thủ lĩnh

Lê Trung Đình hiệu là Long Cang, sinh năm Đinh Tỵ (1857), người làng Phú Nhơn, nay thuộc phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi. Ông thi đỗ cử nhân khoa Giáp Thân (1884) ở trường thi Hương Bình Định. Là người dũng lược và có uy tín, Lê Trung Đình được văn thân Quảng Ngãi cử làm Chánh quản hương binh, sau đó lại được Nguyễn Duy Cung - lúc bấy giờ đang giữ chức Tham biện sơn phòng Nghĩa Định, bí mật cử ra kinh đô yết kiến người cầm đầu phe chủ chiến là đại thần Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh tổ chức lực lượng và xây dựng kế hoạch chuẩn bị chống Pháp.

Nhà thờ Lê Trung Đình. Ảnh: LHK

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương

Sau khi dẹp được phe chủ hòa, khống chế triều nội, phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tích cực chuẩn bị lực lượng đánh Pháp. Căn cứ Tân Sở ở miền núi Quảng Trị được xây dựng để tính kế lâu dài.

Kinh thành thất thủ

Về phía Pháp, cuối tháng 5.1885, tướng De Courcy được bổ làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung kỳ. Ngày 2.7.1885, De Courcy đến Huế, mang theo một tiểu đoàn lính Phi châu cùng những yêu sách ngang ngược như yêu cầu Nam triều ra lệnh cho sĩ phu và dân chúng tuân phục hoàn toàn chính thể bảo hộ, đặt điều kiện là khi phái đoàn vào đến Hoàng thành, vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng đích thân ra đón. Ngoài ra còn đòi tất cả nhân viên trong phái đoàn của Pháp phải được đi vào Đại Nội bằng cửa chính Ngọ Môn. Sự ngạo mạn của phía Pháp khiến phe chủ chiến tức giận và quyết định ra tay trước.

Vua Hàm Nghi. ẢNH: TƯ LIỆU

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Triều đình rối ren, đất nước rơi vào tay giặc

140 năm đã trôi qua từ ngày đại thần Tôn Thất Thuyết, lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất, và sau đó vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần thứ hai, làm bùng lên phong trào yêu nước đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược với hàng loạt cuộc khởi nghĩa của sĩ phu văn thân và nhân dân VN.

Năm 1883, vua Tự Đức băng hà sau 36 năm trị vì. Cái chết của ông vua này, cùng những mâu thuẫn vốn sẵn trong triều nội, đã góp phần đẩy đất nước vào một giai đoạn bi đát.

Tiếng súng xâm lăng ở Đà Nẵng

Ngày 31.8.1858, lấy cớ bảo vệ quyền lợi thương mại và truyền giáo, liên quân Pháp và Tây Ban Nha do Phó đô đốc Charles Rigault De Genouilly chỉ huy đưa chiến thuyền đến ngoài khơi Đà Nẵng và hôm sau 1.9.1858, chúng tấn công chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm đất nước ta của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

QUÂN PHÁP TẤN CÔNG CỬA ĐÔNG - NAM THÀNH HÀ NỘI NGÀY 20.11.1873
ẢNH MINH HỌA CỦA ANDRÉ MASSON TRONG HANOÏ PENDANT LA PÉRIODE HÉROÏQUE (1873-1888), PARIS, 1929

22 thg 1, 2026

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Những địa danh huyền thoại

Trong biên khảo Tìm hiểu đất Hậu Giang, nhà văn Sơn Nam chép: "Cà Mau do tiếng Tuk Khmâu (nước đen), gọi trại Khmâu thành Cà Mau. Ở sông Cái Tàu (U Minh Hạ) còn gia phả của họ Đào, là họ xưa nhứt và đông đảo nhứt. Nhưng chúng tôi chưa được xem. Chỉ nghe nói họ Đào đến Tắc Thủ trước thời Gia Long tẩu quốc".

Tên Cà Mau có từ khi nào ?

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép Hà Tiên tục gọi Mang Khảm, người Việt gọi Phương Thành. Năm 1680, vì bất phục nhà Thanh, Mạc Cửu đem gia đình từ phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, chạy về phương Nam… Mạc Cửu thấy ở phủ Sài Mạt có đông người Việt, người Hoa, Cao Miên, Chà Và tụ tập mở sòng bạc thu thuế, gọi là thuế hoa chi, mới lãnh thầu thuế ấy, lại đào được bạc chôn, trở nên giàu có. Mạc Cửu bèn chiêu mộ dân lưu tán người Việt lập thành 7 xã thôn ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau. Tương truyền xứ này thường thấy tiên hiện trên sông, nên gọi là Hà Tiên. Rồi sai thuộc hạ mang biểu văn tới kinh đô Phú Xuân dâng trình, xin làm người đứng đầu xứ.

Trên sông Trèm Trẹm. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Cà Mau có cái Ao Vua

Cà Mau xưa có một xóm gọi là xóm Ao Kho. Tương truyền, nơi đây có cái ao do chúa Nguyễn Ánh ra lệnh đào để lấy nước ngọt cho binh lính sử dụng trong thời gian đồn trú ở vùng này.

Dấu tích Ao Kho hiện không còn, nhưng gần đó có nhà thờ Ao Kho cạnh sông Gành Hào, nay thuộc P.Hòa Thành, Cà Mau.

Nhà tôi xưa ở đất vua…

Bà Bảy Hòa (78 tuổi) nhớ lại: "Vị trí Ao Kho cách đường Huỳnh Thúc Kháng hiện nay hơn 100 m, nhưng bây giờ đã là vườn và ao nuôi tôm của người dân. Gia đình tôi ở xóm này xưa lắm. Lúc 10 tuổi, má tôi thường sai tôi tới Ao Kho gánh nước về xài. Ao rất sâu, rộng khoảng 1 công đất, nước rất trong và ngọt. Bờ ao có hai chỗ xây bậc thang bằng đá để bà con lên xuống gánh nước cho tiện. Ở đây mỗi năm sông Gành Hào có 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt. Vào mùa nước mặn, đầu trên xóm dưới đều nhờ vào cái ao đó. Người ta lấy nước rất đông nhưng nước trong ao không bao giờ cạn. Khi lớn lên, tôi mới nghe kể lại sự tích, đó là cái Ao Vua".

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Độc đáo tiệc làng ở miếu Ông Bổn

Miếu Ông Bổn xưa có tên là Phước Lãnh Miếu (còn gọi là chùa Ông Bổn) do người Hoa tạo lập. Đây là hội quán của bang Phước Kiến, thờ Phước Đức Chánh Thần, vị thần chủ quản xã thôn bang hội, tương tự như Bổn Cảnh Thành Hoàng của người Việt.

Ngôi miếu xưa 170 năm

Miếu Ông Bổn tọa lạc trên đường Trương Phùng Xuân, P. Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau. Cổng chính lợp mái ngói cong, trang trí hình rồng ở đỉnh. Phần trên của cổng có hàng chữ Hán màu vàng nổi bật trên nền đỏ: Phước Đức Miếu. Bên dưới là dòng chữ quốc ngữ ghi: Miếu Ông Bổn. Ở gian chánh điện, hai bên cột có câu đối viết bằng chữ Hán ca ngợi Phước Đức Chánh Thần ban sự may mắn bình an cho người dân.

Cổng miếu Ông Bổn. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Truyền thuyết miếu Bà Thiên Hậu

Miếu Bà Thiên Hậu (còn gọi là chùa Bà Mã Châu) là cơ sở tín ngưỡng, đồng thời là Hội quán của các bang Triều Châu, Hải Nam và Quảng Đông (người Hoa) tọa lạc trên đường Lê Lợi, P.An Xuyên, Cà Mau.

Ngôi miếu qua 3 thế kỷ

Thiên Hậu cung, theo bức hoành viết bằng chữ Hán treo giữa cửa vào chánh điện, có lối kiến trúc tương tự kiến trúc phổ biến ở các ngôi chùa miếu người Hoa, theo mô hình "tứ hợp viện" được bố cục theo hình chữ nhật, lấy trục dọc làm trục đối xứng với quần thể gồm tiền điện, sân thiên tĩnh, hương đình, chánh điện và hai dãy nhà dọc hai bên gọi là đông lang và tây lang. Vật liệu trong gian chánh điện hầu hết làm bằng gỗ quý, chạm trổ tinh vi sắc sảo.

Theo lời của các vị trong Ban trị sự, ngôi miếu này ngày xưa gọi là miếu Bà Mã Châu. Miếu được xây dựng từ năm 1882, đầu tiên là một mái lá đơn sơ để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu; đến năm 1903 được trùng tu, xây cất quy mô. Việc thờ tự được xác nhận ở cổng chùa qua câu đối viết bằng chữ Hán chiết tự hai chữ Thiên Hậu: Thiên ân vĩnh tích kiều cư lạc/ Hậu đức trường lưu miếu mạo tôn.

Cổng miếu Bà Thiên Hậu. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG