Hiển thị các bài đăng có nhãn Quảng Ngãi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quảng Ngãi. Hiển thị tất cả bài đăng

14 thg 9, 2022

Có một vị tướng đánh giặc giỏi lại mê hát tuồng

Đó là tướng Nguyễn Chánh. Ông được xem như linh hồn của Đội Du kích Ba Tơ và là “tổng đạo diễn” toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp ở vùng tự do Liên khu 5 vào giai đoạn cuối. Ông còn được biết đến là một nhà lãnh đạo có công rất lớn trong việc khôi phục, phát triển nghệ thuật tuồng và các hình thức dân ca kịch truyền thống ở Khu 5.

Vị tướng thư sinh

Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhắc lại chi tiết, trước khi tiễn các tướng lĩnh quân đội Pháp về nước, ông hỏi họ là có yêu cầu gì cần được hỗ trợ của phía Việt Nam không? Tướng De Beaufort - Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở chiến trường Tây Nguyên, chỉ có một yêu cầu nhỏ là cho ông được gặp người chỉ huy chiến trường Tây Nguyên bên phía Việt Minh. Tướng Giáp không rõ De Beaufort gặp vị tướng bên Việt Minh ấy để làm gì, song ông vẫn đáp ứng yêu cầu của vị khách.

Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Chánh. Ảnh: LHK

Ngọt ngon chè chuối

Khi những cơn mưa bất chợt ghé qua rồi chợt đi vội vã, tôi lại thèm ăn món chè chuối của mẹ. Món ăn mang đậm hương vị quê nhà, khiến tôi nhớ mãi.

Bây giờ, chỉ cần chạy xe cái vèo ra đường phố là có ngay món chè chuối. Tôi đã thưởng thức món chè chuối ở nhiều hàng quán, nhưng thích nhất vẫn là món chè chuối do chính tay mẹ nấu với hương vị thơm ngon đặc trưng.

13 thg 9, 2022

Nước Min - Dấu xưa vang vọng

Lâu lắm rồi tôi mới trở lại thôn Nước Min, xã Sơn Mùa (Sơn Tây). Nước Min ngày trước im vắng lắm, thi thoảng mới nghe tiếng vrook, tiếng ru con trầm buồn vang vọng từ một vài mái nhà sàn. Bây giờ, Nước Min đã khác. Dấu xưa như đang vang vọng mỗi ngày.

Từ góc nhà sàn...

Nghệ nhân ưu tú Đinh Ka La chơi đàn ra-uốt.

Sông Kinh đôi bờ xanh biếc

Dòng sông Kinh lấy nước từ cửa Đại đổ về cửa Sa Kỳ, tạo thành một tuyến đường thủy dài hơn 7 km, dòng nước lững lờ trôi qua các xã Tịnh Khê, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ (TP.Quảng Ngãi). Sự tác động của con người vào địa hình tự nhiên đã hình thành nên một dòng sông vừa có cảnh quan thơ mộng, vừa mang đậm nét đặc thù trong cách ứng xử của người dân miền Trung với thiên nhiên vùng ven biển.

Dòng sông Kinh xưa và nay là bức tranh sông nước hữu tình. Dẫu vậy, với các bậc cao niên, dòng sông Kinh thuở trước vẫn luôn chảy tràn trong trí nhớ. Ông Trương Quang Thao (80 tuổi), ở thôn Mỹ Lại, xã Tịnh Khê (TP.Quảng Ngãi) cho biết, hơn nửa thế kỷ trở về trước, tuyến đường thủy sông Kinh khá nhộn nhịp, nhất là vào mùa mưa bão. Ghe thuyền chở đồ gốm Mỹ Thiện, cá chuồn muối, nước mắm, cá khô... từ cửa Sa Kỳ qua cửa Đại, rồi từ cửa Đại theo thuyền buồm ngược lên vùng đồng bằng các huyện Tư Nghĩa, Sơn Tịnh và đến vùng cao Sơn Hà. Ở chiều ngược lại, nậu buôn thuyền theo ghe mang hàng mỹ nghệ, dầu lửa, dầu rái từ bến Tam Thương trên sông Trà Khúc ra tận Sa Kỳ để bán ngược lên vùng đồng bằng và miền núi như Bình Sơn, Trà Bồng, một phần theo đường biển ra Cù Lao Ré (Lý Sơn).

Canh khổ qua nấu cá chuồn

Mùa này, chợ quê bán đủ các loại cá tươi rói, nhất là những con cá chuồn mắt trong veo, thịt rắn chắc. Cá chuồn nấu canh với khổ qua thì ngon phải biết. Cá chuồn có vị ngọt thanh, khổ qua đắng, nhưng khi kết hợp với nhau lại có món ăn lạ miệng, thơm ngon, bổ dưỡng.

Cá chuồn thường dùng để chế biến nhiều món ăn ngon như cá chuồn nấu canh chua, nấu cùng mít non, chiên giòn với củ nén… Để đổi vị cho gia đình, lại giúp giải nhiệt trong những ngày nắng nóng, bà tôi nấu cá chuồn với khổ qua.

Bát canh khổ qua dồn thịt cá chuồn xay thơm ngon. Ảnh: Hiền Thu

28 thg 8, 2022

Nước rau chân vịt giải khát ngày hè

Trong những ngày hè nóng bức, tôi thường nấu nước rau chân vịt cho gia đình thưởng thức. Đây là loại nước uống thanh mát, bổ dưỡng và giải nhiệt ngày hè được nhiều người yêu thích.

Rau chân vịt là đặc sản ở huyện Lý Sơn. Rong biển bám vào các rạng san hô, có hình thù như chân vịt, nên người dân ở đảo gọi là rau chân vịt. Rau chân vịt là nguyên liệu chế biến các món đặc sản, hấp dẫn khách du lịch mỗi khi đến Quảng Ngãi.

Nước rau chân vịt. Ảnh: Kim Cúc

27 thg 8, 2022

Bánh xèo Đức Phổ

Nhiều người bảo, món bánh xèo Đức Phổ đã ăn rồi cũng muốn được ăn thêm lần nữa. Dù rằng, đó là bánh xèo không nhân thịt, tôm, trứng, chỉ có lá hẹ rắc đều...

Món bánh xèo ở TX. Đức Phổ rất đặc trưng, bởi vậy đã tạo nên "thương hiệu" bánh xèo Đức Phổ. Ngày xưa, bánh xèo Đức Phổ chỉ giới hạn ở làng quê, đặc biệt là trong những ngày đông trời mưa phùn gió bấc, hay vào dịp rằm, đặc biệt là rằm tháng Mười, nhà nhà đúc bánh xèo. Còn bây giờ, món bánh xèo ở TX. Đức Phổ theo xe buýt ra TP. Quảng Ngãi và đi các nơi, để đáp ứng nhu cầu của thực khách gần xa.

Ngon miệng với món canh cò ke

Có dịp đến huyện Trà Bồng, nhiều người thích thú khi thưởng thức món canh cò ke. Món ăn này không chỉ có tên gọi thú vị, mà còn có hương vị thơm ngon đặc trưng.

Người dân ở huyện Trà Bồng cho biết, cò ke là phần ở bên trong thân cây khoai môn mọc theo dòng nước hai bên bờ suối. Cò ke có quanh năm. Người dân đi dọc hai bên bờ suối để hái những đọt cò ke. Cũng giống như rau dớn, cò ke mọc tự nhiên, hoang dã nên được xem là rau sạch. Nhiều người hái cò ke về bán cho thương lái, giá từ 5 - 10 nghìn đồng/bó.

Bát canh cò ke nấu với xương heo đậm đà hương vị thơm ngon, bổ dưỡng.

26 thg 7, 2022

Con đường muối ở miền Tây xứ Quảng

Ngày xưa, ở vùng cao, muối ăn rất khan hiếm. Muối ăn có giá rất đắt nên không phải ai cũng có tiền để mua. Muối mua được rất ít nên đồng bào miền núi cất giữ muối như của quý. Khi người Kinh ở đồng bằng mở lối thông thương, thì những hàng hóa thiết yếu như mắm, muối đưa lên vùng cao ngày càng nhiều.

Giao thương giữa đồng bằng và miền núi

Bên cạnh thương lái ở đồng bằng đến tận buôn làng để buôn bán, thì đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi cũng thường xuyên dùng voi, ngựa hoặc đi bộ đến đồng bằng hoặc vùng giáp ranh trao đổi thổ sản để lấy muối ăn và các hàng hóa khác. Thời kỳ chúa Nguyễn Đàng Trong đã chú trọng việc giao lưu kinh tế - văn hóa giữa người Kinh với các bộ tộc ở miền núi nhằm khai thác các nguồn lợi, mở rộng giao thương với bên ngoài, đúng như Nguyễn Hoàng đã nói: “Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối”.

Thuyền buồm trên sông Trà Khúc là phương tiện quan trọng của cư dân đồng bằng trong việc buôn bán trên nguồn. (Ảnh: Jean Yves Claeys, chụp những năm 1929 - 1938).

Chuyện xưa ở làng Châu Sa

Ở phía bắc sông Trà Khúc có một ngôi làng mà ngày trước mang tên xứ Tiểu Giang, sau đổi thành xã Châu Sa, tổng Trung, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (nay là xã Tịnh Châu, TP.Quảng Ngãi). Mỗi con sông, ngọn núi, mỗi xóm nhỏ trên vùng đất này mang đậm dấu tích cổ xưa, trong đó có từ đường họ Võ.

Niềm tự hào của dòng họ Võ

Làng Châu Sa mang đậm dấu tích lịch sử, văn hóa của người Chăm như bàu Ấu, bàu Đề, Cổ Lũy, núi Chồi, thành cổ Châu Sa trong suốt 13 thế kỷ (thế kỷ II - XV). Cũng chính nơi đây, sau cuộc bình Chiêm mở đất của Vua Lê Thánh Tông năm 1471, nhiều dòng họ lớn (Lê, Nguyễn, Võ) từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã vào vùng đất Tiểu Giang lập nghiệp.

Từ đường họ Võ.

21 thg 7, 2022

Cà da ếch quệt mắm cái

Cà da ếch quệt mắm cái ăn rất ngon, những ai đã từng thưởng thức đều nhớ mãi. Nhớ món cà da ếch quệt mắm cái là nhớ cả tình quê đong đầy.

Những quả cà da ếch có da bóng láng, ẩn hiện trong cành lá khiến trẻ thơ chơi quanh sân đưa tay chỉ trỏ. Có đứa cất giọng: "Đố bay sao gọi là cà da ếch?". Đứa nọ ra vẻ hiểu biết: "Vì gần cuống xanh lốm đốm và phía dưới quả cà có màu trắng giống da ếch ở lưng và bụng, nên gọi là cà da ếch chứ sao!". Cả bọn im lặng ngầm biểu thị thái độ đồng tình. Mẹ tôi từ ngoài đồng về nhà ngồi săm soi bên gốc cà và chọn hái quả lớn bằng cái chén mang vào chế biến thức ăn trong bữa cơm gia đình. Loại trái dân dã này qua đôi tay khéo léo của mẹ trở thành những món ăn đậm đà hương vị, nào là xào cùng lá lốt, nộm cà, kho với cá đồng...

Cà da ếch và mắm cái cá cơm. Ảnh: Trang Thy

Cá đục nướng trui

Người làng chài quê tôi không chỉ sành ăn cá mà còn làm “thơ” về cá nghe cũng vui. Mọi người vẫn thường nghêu ngao: "Nướng trui cá đục ngon ghê/ Chấm với muối ớt thì hết chê chỗ nào". Cá đục nướng trui là món ăn khoái khẩu của nhiều người.

Cá đục có quanh năm. Riêng mùa hè, vùng biển gần bờ nước ấm và trong, phiêu sinh vật phong phú, dễ bắt mồi, nên cá đục nhiều hơn và ngon hơn các mùa khác. Cá đục hay dính lưới bén, lưới xâu. Cư dân làng chài có thú ra gành ngồi câu cá đục. Cá đục mình thon dài, hao hao giống cá bống nước ngọt, nên còn được gọi là cá bống biển. Khi trưởng thành, cá đục dài gần bằng gang tay người lớn.

Món cá đục nướng trui. Ảnh: Cao Duyên

Thịt cá đục săn chắc, ngọt và rất thơm nên thường được dùng làm món gỏi, ngon không kém so với gỏi cá trích, cá chuồn, cá lao... Các bà nội trợ khi thấy cá đục là nghĩ ngay đến món kho rim với nghệ kèm sả ớt để ăn với cơm. Riêng món cá đục tươi đem nướng trui trên lửa than thì ngon phải biết!

Vào mỗi buổi chiều hè, ngư dân hành nghề lưới thúng, xuồng câu, lưới xâu, lưới bén đánh bắt trong vùng cửa biển. Họ thong dong, bồng bềnh độ hai tiếng đồng hồ trên biển thì vô bờ, thả tay lưới lên bãi. Người dân xúm lại gỡ cá. Mạnh ai nấy gỡ, để riêng từng nhúm cá chừng vài chục con. Gỡ xong, họ hỏi chủ lưới nhúm cá này bao nhiêu tiền. “Cứ lấy đi. Ngang qua nhà đưa cho vợ tui vài chục nghìn là được mà”, chủ lưới nói. Đó là giá “tình làng nghĩa xóm”, chứ còn giá ở chợ cũng phải trên 200 nghìn đồng một ký cá đục. Mua cá thời điểm này, con nào con nấy tươi xanh, nhiều con còn quẫy đành đạch.

Về làng chài ở Sa Huỳnh, phường Phổ Thạnh (TX.Đức Phổ) lúc chiều tà, nếu bạn thấy những bếp than trước hiên nhà sát biển, bếp than dưới gốc dừa, gốc dương, đó là người dân đang nướng cá, nhiều nhất là nướng cá đục. Cách nướng cá dân dã lắm, nướng trui mà. Cá không cạo nhớt, không đánh vảy, không mổ bụng, không móc mang, cũng không tẩm ướp gia vị. Cứ để nguyên con cá xếp lên vỉ, nướng trên bếp than hồng, trở cá cho đều. Chờ khi bộ vảy cá cháy sém, mùi thơm khó cưỡng thì cá đã chín ở mức đạt “chuẩn”. “Chuẩn” ở đây có nghĩa là khi cầm con cá lên, lột nhẹ lớp vảy, lộ ra từng mảng thịt trắng phau, thơm nức mũi.

Các món nướng thường ăn với muối ớt, nhất là cá nướng. Bởi vậy, phải làm chén muối ớt thật ngon. Giã muối sống hoặc muối hầm với ớt xanh, pha với ớt đỏ, ớt vàng, trộn tí bột ngọt nữa là đã có chén muối mặn mà.

Gỡ từng miếng thịt cá đục săn chắc, chấm với muối ớt rồi thưởng thức. Ôi thôi, ngon không gì sánh bằng. Cá đục nướng trui ngon ngọt, béo bùi, thơm dịu... ăn một lần nhớ mãi.

TRẦN CAO DUYÊN

10 thg 7, 2022

Những tên chợ bị lãng quên

Những ai từng sống ở nông thôn thuộc huyện Sơn Tịnh vào thế kỷ trước, hẳn còn nhớ những tên gọi như chợ Đình ở xã Tịnh Bình, chợ Hàng Rượu ở xã Tịnh Ấn, chợ Bờ Đắp ở xã Tịnh Hòa, chợ Bò ở xã Tịnh Phong... Bây giờ, những tên chợ ấy đã rơi vào quên lãng dù việc mua bán tại vị trí chợ ngày xưa ấy vẫn còn.

Định danh cho chợ - mỗi nơi một cách

Hôm rồi, tôi có dịp ngang qua chợ Đình, ở xã Tịnh Bình. Thấy tấm biển ghi “chợ Đình”, đứa cháu lên 8 được “ông trẻ” dẫn theo hỏi: “Ông ơi, đã chợ sao lại có đình nữa?”. Lâu nay quen miệng gọi thế chứ giờ trẻ con nó hỏi thì giật mình ngay vì không ít người, nhất là lớp thanh niên ngày nay không hiểu ngọn ngành về tên các ngôi chợ như chợ Đình này.

6 thg 7, 2022

Làng Mục Đồng giữa thảo nguyên xanh

Ngược thượng nguồn sông Phước Giang từ thác Trắng, xã Thanh An, H.Minh Long (Quảng Ngãi) chừng gần một giờ đồng hồ, có một ngôi làng chỉ có bốn mái nhà của những người Hrê. Ở đó, cuộc sống bình yên như tiên cảnh.

Từ làng Dép, xã Thanh An (H.Minh Long), đoàn 5 người chúng tôi theo chân ông Đinh Văn Rơn (65 tuổi) ngược lên thung lũng Ruộng Đò bằng đường tắt. Ông cười cười nhìn vào chân chúng tôi như muốn nói “Thư sinh vầy liệu có đi nổi không”, rồi quay đầu dẫn đoàn ngược làn sương thác Trắng lên thượng nguồn.

4 thg 7, 2022

Mực dồn thịt rim nước mắm

Mẹ tôi vẫn thường chế biến các món ăn ngon từ những con mực tươi rói, nhưng tôi thích nhất là món mực dồn thịt rim nước mắm.

Sáng sớm tinh mơ, mẹ đi chợ mua các nguyên liệu để chế biến món ăn trong ngày cho gia đình. Biết chị em tôi thích ăn món mực dồn thịt rim nước mắm nên khi ở chợ có bán mực tươi ngon mẹ đều mua về chế biến. Mẹ mua mực có kích thước vừa phải, thân trong suốt, óng ánh, đôi mắt đen xanh. Mực mua về làm sạch ruột, bóc bỏ mắt để mực không bị đen, rồi rửa sạch, để ráo nước. Tiếp theo, mẹ băm thịt ba rọi thật nhuyễn và ướp các loại gia vị gồm hành, tỏi băm nhuyễn, cho vào một ít muối, tiêu, bột ngọt.

Món mực dồn thịt. Ảnh: An Hân

3 thg 7, 2022

Món canh cá nục nấu bí đao

Sáng sớm, mẹ tôi tranh thủ dạo quanh vườn hái rau, quả chuẩn bị cho bữa trưa. Giàn bí đao ba tôi trồng đã cho quả. Tiết trời ngày hè oi ả, mẹ nấu món canh cá nục với bí đao, vừa thanh mát vừa bổ dưỡng.

Trong mảnh vườn nhỏ, ba tôi trồng nhiều loại rau quả, chủ yếu là phục vụ cho bữa ăn gia đình. Mùa nào thức nấy, vào mùa hè, ba tôi trồng mướp, khổ qua, bí đao để mẹ nấu canh cả nhà ăn cho mát. Hơn nữa, tiết trời nắng nóng, các loại rau, quả dạng dây leo dễ trồng, dễ chăm sóc hơn các loại cây trồng khác.

Canh cá nục nấu bí đao thơm ngon.

Ngôi đình hơn 200 năm ở La Châu

Lần theo những địa danh thuở xưa, từ cầu Phủ, cầu Đình đến Điền Trang, Đập Mít, chúng tôi đến với làng La Châu, khi xưa có tên là xứ Cồn Găng, Tổng An, phủ Tư Nghĩa, nay thuộc thôn La Châu, xã Nghĩa Trung (Tư Nghĩa). Làng La Châu nằm bên dòng sông mang tên La Châu uốn quanh rất đẹp.

Cùng với quá trình khai hoang lập ấp tạo nên những vùng đất trù phú, màu mỡ, những dòng họ lớn đầu tiên như Nguyễn, Trần, Phan, Lê, Phạm đã dựng nên đình làng La Châu. Đình làng La Châu là một quần thể di tích của làng, của xóm gồm đình La Châu, nghĩa từ, miếu bà Ngũ Hành Tiên Nương. Quần thể di tích này đều nằm trên gò cao, cạnh dòng sông La Châu phát nguyên từ một nhánh sông Văn (sông Phước Giang) thuộc thôn Phú Bình, thị trấn Chợ Chùa (Nghĩa Hành). Đình La Châu thờ Thành hoàng bổn xứ, có niên đại thế kỷ XIX, thời nhà Nguyễn.

Đình làng La Châu, ở xã Nghĩa Trung (Tư Nghĩa). Ảnh: Tạ Hà

23 thg 6, 2022

Người đặt tên văn hóa Sa Huỳnh

Bà Madeleine Colani, một nhà khoa học nổi tiếng người Pháp đã khai sinh và định danh "Văn hóa Sa Huỳnh", một trong ba nền văn hóa thời tiền sử ở Việt Nam (Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo). Những phát hiện, khám phá ban đầu của M.Colani đã đặt nền móng quan trọng, gợi mở cho các nhà nghiên cứu sau này về nền văn hóa Sa Huỳnh.

Nhà khảo cổ học Madeleine Colani (đứng giữa, hàng đầu) cùng các nhà khoa học Pháp và Việt Nam. Ảnh: TL

Madeleine Colani sinh năm 1866 tại Strasbourg, vùng đông bắc nước Pháp. Năm 1884, M.Colani nhận bằng cao đẳng, một bằng cấp danh giá mà vào thời đó rất ít cô gái trẻ đạt được. Theo lời kêu gọi của Paul Doumer - Toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ, M.Colani đã sang Việt Nam. Năm 1929, Louis Finot - Giám đốc Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) đã quyết định nhận bà là thành viên. Từ đó, M.Colani tiến hành cuộc khảo sát tại Hòa Bình, vịnh Hạ Long, Cánh đồng Chum ở Thượng Lào và đặc biệt các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam.

Dấu xưa ở đình Thanh Khiết

Đình Thanh Khiết, ở thôn Thanh Khiết, xã Nghĩa Hà (TP.Quảng Ngãi) còn lưu giữ kiến trúc cổ xưa và mang đậm nét văn hóa của làng quê Việt Nam. Đây là nơi sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân làng Thanh Khiết.

Chuyện xưa qua tên gọi

Đình Thanh Khiết gợi nhớ nhiều câu chuyện xưa. Đình tọa lạc ở thôn Thanh Khiết, làng quê bên phía hữu ngạn vùng hạ lưu sông Trà Khúc. Nơi đây chỉ cách biển vài ba cây số, nhưng là vùng thuần nông, người dân không làm nghề biển. Trước đây, làng Thanh Khiết được nhiều người biết đến qua câu ca dao: “Gái Thanh Khiết chuyên nghề cải giá/ Trai Sung Tích chuyên dạ kén dâu”. Cải giá ở đây ý nói rau cải, rau giá, làng này chuyên nghề trồng rau. Về sau, người dân ở làng Thanh Khiết còn trồng nhiều hoa tươi để bán, nên gọi là làng hoa Nghĩa Hà. Còn làng Sung Tích nằm bên kia sông phía đối diện (nay là xã Tịnh Long, TP.Quảng Ngãi), chuyên trồng dâu nuôi tằm, nên mới gọi là kén dâu.

Đình Thanh Khiết ở thôn Thanh Khiết, xã Nghĩa Hà (TP.Quảng Ngãi). Ảnh: CAO CHƯ

Đình làng An Thạnh: Nơi lưu giữ nét văn hóa xưa

Đình làng An Thạnh, ở thôn An Thạnh, xã Bình Tân Phú (Bình Sơn) có từ lâu đời, lưu giữ nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương qua nhiều thế hệ.

Theo lời kể của các bậc cao niên, đình làng An Thạnh được người dân địa phương góp tiền, của xây dựng cách đây hơn trăm năm trước, để thờ Thành hoàng, các vị thần cai quản làng và các bậc tiền nhân. Đình làng không chỉ là nơi gặp gỡ, giao lưu của người dân, mà còn ghi dấu nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng từ thời xa xưa được lưu truyền cho đến ngày nay. Hằng năm, vào dịp tiết Thanh minh (tháng Ba âm lịch), người dân dọn vệ sinh, sửa sang lại khu vực đình làng, sắm sửa nhiều lễ vật để tổ chức lễ cúng, thể hiện lòng thành kính tri ân các vị thần và bậc tiền nhân đã có công dựng làng, lập ấp xưa kia.

Phía trước cổng đình làng An Thạnh có cây sộp hàng trăm năm tuổi. Ảnh: An Nhiên