17 thg 10, 2019

Đặc sắc trang phục dân tộc Mông

Đối với dân tộc Mông tại Cao Bằng, trang phục truyền thống luôn mang nét đẹp và ý nghĩa riêng, in dấu văn hóa và phong tục đặc trưng.

Nam nữ dân tộc Mông xã Nội Thôn (Hà Quảng). 

Trang phục truyền thống của người Mông chủ yến may bằng vải, tay tự dệt, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đối với một bộ trang phục nữ hoàn chỉnh thường gồm áo xẻ cổ, váy xòe xếp ly, xà cạp và khăn đội đầu. Trong đó, áo được trang trí với kỹ thuật đa dạng. Áo có cổ phía trước hình chữ V, hai bên được nẹp thêm vải màu. Phía sau là bức thêu họa hình chữ nhật được trang trí hoa văn rất hài hòa, trang nhã. Hai ống tay áo thường được thêu những hoa văn với đường nét vắn ngang có đủ màu sắc từ nách đến cổ tay. Đây là nơi tập trung hoa văn nhiều nhất làm nổi bật chiếc áo của người phụ nữ. Với nghệ thuật thêu chỉ màu, khâu chắp vải... những mảng màu hoa văn được phân bố hợp lý làm cho chiếc áo tươi sáng, hài hòa hơn.

Nơi lưu giữ nghề làm giấy bản của dân tộc Dao Đỏ

Dân tộc Dao Đỏ ở huyện Nguyên Bình có những nét văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc thể hiện qua phong tục, tập quán và nghề truyền thống. Trong đó có nghề làm giấy bản thủ công từ cây trúc sào tại xã Yên Lạc đến nay vẫn được duy trì và phát huy.

Người dân xã Yên Lạc (Nguyên Bình) sản xuất giấy bản. 

Giấy bản thường được sử dụng trong các dịp cầu an, lễ, Tết. Giấy bản có màu vàng nhạt, dai và bền, thường dùng để cắt giấy tiền, vàng hương trong tục thờ cúng, dùng để viết chữ Nho, chữ Hán, bởi giấy dai và thấm mực nên chữ viết không bao giờ phai.


Người Dao Đỏ ở Yên Lạc làm giấy bản từ cây trúc non, trải qua nhiều công đoạn khá công phu. Từ tháng 3 đến tháng 4 âm lịch, người dân thu hoạch cây trúc non, loại bỏ cành, lá, chẻ đôi và cắt thành từng đoạn ngâm xuống nước vôi từ 1 - 2 tháng, vớt ra rửa sạch rồi lại ngâm tiếp 1 - 2 tháng. Sau đó, vớt trúc lên, đập dập, cho vào cối giã và cho xuống bể lớn đựng sẵn nước cây “chề kêu” (tiếng địa phương), khi khuấy đều sẽ được một loại dung dịch sóng sánh màu vàng nhạt. Dùng khuôn tráng giấy làm bằng vải nhúng xuống bể, lắc đều để dung dịch này trải đều trên khuôn vải sẽ được tấm giấy bản ướt. Cuối cùng, bóc tấm giấy bản ướt ra phơi khô trên tấm cót hoặc vắt lên sào để giấy bản khô.

Chị Triệu Mùi Chướng, xóm Lũng Súng, xã Yên Lạc được bố mẹ dạy làm giấy bản từ khi còn nhỏ, hiện vẫn duy trì làm nghề hơn 10 năm, chia sẻ: Làm giấy bản không quá khó nhưng đòi hỏi nhiều công sức, ngày nào cũng phải xem nước ngâm cây có đủ hay không. Để có những tờ giấy bản vuông vắn, phải xếp các tấm giấy thành lớp khoảng 15 - 20 tờ, khổ rộng 25 x 80 cm. Giấy bản đẹp phải mỏng, có sắc vàng, độ xốp cao, dai mịn, soi ra ngoài ánh nắng thấy rõ những sợi tơ và có hương thơm của cây rừng.

Cây trúc sào là một trong những hướng phát triển kinh tế góp phần tăng thu nhập, giảm nghèo của người dân tại xã Yên Lạc. Nhận thấy nghề làm giấy bản truyền thống có tiềm năng phát triển, góp phần bảo tồn, lưu giữ văn hóa dân tộc, nhiều năm trở lại đây, chính quyền xã Yên Lạc tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân duy trì và phát triển nghề, tận dụng sản phẩm trúc sẵn có nhằm góp phần tăng thu nhập cho nhân dân, nhất là mùa nông nhàn. Hiện, xã Yên Lạc có gần 100 hộ ở 4/5 xóm làm giấy bản, gồm: Lũng Súng, Tàn Pà, Lũng Ót, Tà Cáp. Nhiều hộ có thu nhập từ 10 - 30 triệu đồng/năm từ làm giấy bản, góp phần ổn định cuộc sống.

Nghề làm giấy bản của người Dao Đỏ xã Yên Lạc thường diễn ra mùa nông nhàn. Dù làm giấy bản phải có thời gian, sức khỏe và sự tỉ mỉ nhưng mỗi người Dao sinh ra và lớn lên ở Yên Lạc luôn tự hào khi các thế hệ trong gia đình vẫn hằng ngày cần mẫn lưu giữ nghề truyền thống của cha ông để lại theo cách riêng của họ.

Để bảo tồn, phát triển nghề làm giấy bản truyền thống từ cây trúc sào của người Dao Đỏ, chính quyền địa phương cần tính đến việc phát triển thành làng nghề gắn với phát triển du lịch; tập trung nâng cao tay nghề cho người lao động cũng như quảng bá, tìm kiếm thị trường để sản phẩm của người dân có đầu ra ổn định. Có như vậy, nghề làm giấy bản nói riêng và các nghề truyền thống của nhân dân nói chung mới phát triển bền vững, góp phần gìn giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc độc đáo.

Phan Huế

Khám phá vẻ đẹp Thông Nông

Là một trong những huyện biên giới, Thông Nông được thiên nhiên ban tặng cho nhiều cảnh quan tươi đẹp, hùng vĩ, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, khám phá và trải nghiệm. Hiện nay, địa phương đã và đang nỗ lực tuyên truyền, quảng bá tiềm năng, lợi thế về du lịch, đồng thời trải “thảm đỏ” thu hút đầu tư vào du lịch trên địa bàn.

Nhìn từ trên cao, Bãi Tình, xã Thanh Long (Thông Nông) như một thảo nguyên thu nhỏ với khung cảnh bình yên, thơ mộng. 

Từ Thành phố, chúng tôi vượt gần 40 km đường đèo dốc quanh co, uốn lượn bên sườn núi đá như dải lụa vắt ngang lưng trời đến huyện Thông Nông chiêm ngưỡng cảnh đẹp của hai điểm du lịch mà theo nhiều người giới thiệu, đó là những điểm du lịch đẹp “mê hồn” của địa phương này.

16 thg 10, 2019

Nồng nàn làn điệu Tâm Pớt

Trong đời sống tinh thần của đồng bào M’nông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Tâm Pớt là làn điệu dân ca được hát theo phong cách ngẫu hứng mang đầy màu sắc văn hóa được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. 

Trong âm thanh của cồng chiêng, bên bếp lửa bập bùng, làn điệu Tâm Pớt được cất lên thu hút sự quan tâm của cộng đồng cũng như du khách. 

Hát Tâm Pớt luôn có mặt trong các lễ hội truyền thống của người M'nông 

Theo Nghệ nhân Nhân dân Điểu Marin ở bon Bu Brâng, xã Đắk N’drung (Đắk Song), hát Tâm Pớt là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của người M’nông. Người M’nông có thể hát kể Tâm Pớt khi kết bạn, giao duyên, lúc uống rượu cần hay trong nhà, bon làng có khách quý… Mỗi bài hát Tâm Pớt gồm nhiều câu và mỗi ý được người hát ứng đối dài hay ngắn tùy theo nội dung được đề cập. Tùy theo tính chất và mục đích mà người hát Tâm Pớt thể hiện nội dung phù hợp.

Dẻo thơm gói xôi dâng cúng tổ tiên của người Dao

Xôi là một trong những món ăn ngon quen thuộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Có nhiều loại xôi thường được nhắc đến như xôi trắng, xôi gấc, xôi đậu, xôi cốm, xôi bắp, xôi ngũ sắc… Tuy nhiên, mỗi dân tộc thường có cách nấu và loại xôi đặc biệt để sử dụng vào những dịp khác nhau. 

Người Dao trên địa bàn tỉnh ta nổi tiếng với nhiều loại xôi dẻo thơm, ngọt bùi như xôi trắng, xôi sắn và xôi ngũ sắc. Ngày thường, người Dao thích làm xôi sắn cho bữa ăn hằng ngày hay mang theo làm lương thực những lúc lên nương rẫy xa. Xôi ngũ sắc được nấu trong ngày đặc biệt như đám cưới, Tết Thanh minh, Rằm tháng Bảy hay khi có khách quý đến chơi nhà. Vào những dịp quan trọng như Lễ cúng cơm mới hay Lễ cấp sắc, người Dao luôn chuẩn bị những gói xôi nếp trắng làm lễ vật dâng cúng thần linh, tổ tiên. 

Lá dong được người Dao dùng để gói xôi dâng cúng 

Mùa măng rừng

Hàng năm cứ vào độ tháng 9-10, người dân ở các huyện trong tỉnh Đắk Nông lại hăm hở đi hái măng rừng về bán. Tuy vất vả nhưng việc hái măng rừng cũng giúp người dân có thêm thu nhập, trang trải cuộc sống ngày mưa gió.

Mùa mưa là mùa các gia đình hái măng về bán kiếm thêm thu nhập 

Chợ phiên Lũng Pán

Đến chợ phiên Lũng Pán, xã Huy Giáp (Bảo Lạc), ấn tượng về những màu sắc khác nhau của sản vật, của trang phục, sắc thái trên từng gương mặt con người nơi đây, âm thanh của tiếng cười, tiếng nói, tiếng gọi mời và hương vị các món ẩm thực bản địa..., như một bức tranh tổng hòa nét văn hóa độc đáo của người vùng cao duyên dáng, hấp dẫn và thắm đượm tình người.

Chợ phiên Lũng Pán đông vui như ngày hội. 

Ngày chợ phiên, từ sáng sớm, những dòng người từ trên núi xuống, từ thung lũng lên, có người đi tay không, người gùi gà, người dắt lợn, người đi xe máy, người đi bộ... gặp nhau làm náo nhiệt cả một vùng ngày thường vốn yên ả.

Độc đáo nghề nhuộm chàm của người Nùng An

Trải qua nhiều thăng trầm, đến nay nghề nhuộm vải chàm của người Nùng An tại xã Phúc Sen (Quảng Uyên) vẫn được lưu giữ, bảo tồn và phát huy. Đây không chỉ là một nghề truyền thống, đem lại giá trị kinh tế mà còn là nét văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. 

Phụ nữ Nùng An phơi vải chàm. 

Song song với sự phát triển của xã hội, đã có một khoảng thời gian, nghề nhuộm vải chàm của người Nùng An đứng trước nguy cơ bị mai một. Thế nhưng, chính nét sinh hoạt thường ngày riêng có của người dân nơi đây đã mang lại một sắc màu mới cho nghề thủ công truyền thống này. Hiện nay, xã Phúc Sen còn 35 hộ lưu giữ, sản xuất vải chàm nằm rải rác tại các xóm Khào A, Khào B, Lũng Vài, Phja Chang. 

15 thg 10, 2019

Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào S’Tiêng

Theo Địa chí Bình Phước, thổ cẩm là một loại hàng vải dệt thủ công, có nhiều họa tiết được bố trí xen kẽ, nổi lên trên bề mặt vải giống như thêu. Những hoa văn này đem lại cho tấm vải sự tương phản về đường nét, màu sắc. Ở Bình Phước, ngoài các dân tộc tại chỗ như: S’Tiêng, Mnông, Khmer, còn có một số dân tộc khác như: Tày, Nùng, Mường, Thái... khi di cư đến, họ cũng mang theo nghề dệt thổ cẩm với những nét độc đáo riêng. 

Hiện nay, phần lớn phụ nữ S’Tiêng không còn biết dệt thổ cẩm như trước đây. 

Đối với đồng bào dân tộc S’Tiêng, dệt thổ cẩm là nghề truyền thống của phụ nữ. Các thiếu nữ S’Tiêng tuổi từ 13 đến 15 được bà, mẹ, cô, dì trong nhà truyền lại nghề dệt thổ cẩm. Bằng đôi tay khéo léo, sự cần cù, óc sáng tạo; bằng các nguyên vật liệu sẵn có từ rừng, phụ nữ S’Tiêng đã dệt nên những sản phẩm tinh xảo, có hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ vừa mang tính dân gian, vừa mang tính hiện đại của cuộc sống.

Dệt vải lanh - Nghề thủ công truyền thống của dân tộc H'mông

Với dân tộc HMông, bên cạnh nghề làm nương rẫy, ruộng nước và chăn nuôi...họ còn có một số nghề thủ công truyền thống đạt kỹ thuật cao....
Ở Sơn La, dân tộc HMông có số dân đông thứ 3 với 114.578 người cư trú chủ yếu ở các vùng nuí cao thuộc các huyện: Bắc Yên, Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Thuận Châu và Sông Mã, Mai Sơn, Mường La. Sơn la có 3 nghành Mông: HMông hoa, HMông trắng, HMông đen với các nét đặc trưng văn hoá độc đáo khác nhau.

Ảnh: TTXVN

Với dân tộc HMông, bên cạnh nghè làm nương dãy, ruộng nước và chăn nuôi...họ còn có một số nghề thủ công truyền thống đạt kỹ thuật cao mà đặc sắc hơn cả là nghề dệt vải lanh (dùng sợi lanh để dệt thành vải).

Nón lá Sai Nga

Trong “cơn lốc” công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiều làng xã của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ được nghề truyền thống, không những thế còn biến nó thành thế mạnh, Sai Nga là một trong những địa phương tiêu biểu. Tuy là một nghề thủ công “phụ” nhưng đem lại thu nhập “chính” cho các hộ dân nơi đây. 

Điều dễ nhận thấy nhất khi về Sai Nga là những khoảng sân trắng màu lá cọ, tre nứa đã chẻ sẵn, dùng để đan nón. Trước kia, khi kinh tế còn khó khăn, lá cọ được dùng để lợp nhà, nhưng ngày nay, cọ chỉ được dùng làm nguyên liệu khâu nón. Những chiếc nón lá nhờ đôi bàn tay khéo léo của người Sai Nga tạo nên được khách hàng khắp nơi ưa chuộng.

Những người già nhất ở Sai Nga cũng chẳng còn nhớ nghề làm nón xuất hiện tự bao giờ, lại càng không thể nhớ ai là người đưa nghề nón từ làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) đến với người Sai Nga. Cũng không có sách nào ghi chép về cụ tổ nghề, những người thợ chỉ truyền bằng miệng và nghề đã tồn tại cho đến bây giờ. Nhưng với người Sai Nga hôm nay nghề làm nón không chỉ giúp họ ổn định cuộc sống, mà còn gìn giữ một nét văn hoá của vùng đất Tổ.

Tết ăn cơm mới

Tết ăn cơm mới (Nèn kin khẩu mấư) là tết truyền thống của người Tày, Nùng Cao Bằng được tổ chức vào chiều ngày 9/9 âm lịch hằng năm.

Bát lúa nước mới - lễ vật không thể thiếu trong ngày Tết ăn cơm mới. 

Theo người Tày, Nùng, ruộng cấy lúa nước của vùng cao đa phần là ruộng cạn (ruộng chờ nước mưa). Người nông dân vùng cao cần chọn các giống lúa thích hợp vào mùa mua mới có nước để cày bừa, gieo cấy. Sau Tết Trung thu (15/8), lúa bắt đầu trỗ bông, đến tháng Mười lúa mới chín.

Tản mạn về địa danh làng, xã Cao Bằng

Thoáng nghe, nhìn về các địa danh Cao Bằng bỗng dưng gieo vào lòng tôi câu hỏi: Tại sao người ta đặt tên như vậy? Xuất xứ địa danh? Ở đây tồn tại một nghịch lý là rất nhiều địa danh thân thiết từng được gọi quen thuộc hằng ngày, thậm chí đã đi vào thi ca, âm nhạc, thản nhiên “sống” trong lòng xã hội mà ta không hiểu nó.

Non nước Ngọc Côn (Trùng Khánh). Ảnh: Thế Vĩnh

Địa danh tỉnh Cao Bằng rất phong phú đa dạng, cho đến nay, có trên 2.400 tên làng, tổ dân phố, 199 tên xã và 13 tên huyện, Thành phố, chưa kể đến vô vàn tên núi, sông, ruộng, đồng… Qua sơ cứu chúng ta có thể nhận ra địa danh làng, xã được đặt tên gắn với các điều kiện sinh hoạt đời sống, sự kiện lịch sử, người có công với đất nước. Địa danh làng, xã mà chúng tôi muốn đề cập ở đây chỉ trong phạm vi khuôn khổ tiếng Tày, Nùng.

Đôi tay tài hoa của làng Hlang Ngol

Vô tình bắt gặp hình ảnh một thiếu nữ Jrai với chiếc gùi có nắp vô cùng xinh xắn trên vai, tôi lân la tìm hiểu về gốc tích, rồi tìm về làng Hlang Ngol (xã Ia Vê, huyện Chư Prông, Gia Lai) vào một ngày đầu đông. Chẳng mất nhiều thời gian, chúng tôi đã được diện kiến chủ nhân của những chiếc gùi có nắp nức tiếng gần xa-ông Siu Lơl.

Vừa bước vào nhà, chúng tôi dường như bị choáng ngợp trước những chiếc gùi vô cùng đẹp, đủ kích cỡ được chủ nhân để gọn gàng trên kệ tủ. Thấy chúng tôi say sưa ngắm từng chiếc gùi, mân mê từng họa tiết, hoa văn trên thân gùi, nắp gùi, già làng Kpuih Nhơl trải lòng: “Ngày xưa chỉ những gia đình giàu có, lắm trâu, nhiều rẫy mới có thể sở hữu những chiếc gùi có nắp thôi. Gùi có nắp khi đó ngoài việc dùng trong sinh hoạt hàng ngày còn được dùng để cất váy áo, đồ trang sức quý... của gia đình. Ở Hlang Ngol hiện cũng có vài người biết đan gùi nhưng chỉ là những chiếc gùi đơn giản để gùi thóc, gùi nước... Còn gùi có nắp đậy với hoa văn đẹp duy chỉ có ông Siu Lơl biết làm”. Già làng Kpuih Nhơl cũng có thâm niên với việc đan gùi, nhưng theo ông, đan gùi có nắp rất khó, nhất là việc tạo khối hình trụ tròn và nắp khum hình chóp nón. Do đó, phải là người khéo léo, kiên nhẫn và giỏi nghề mới có thể đan được gùi có nắp. Có lẽ vì vậy mà mỗi khi nhắc đến ông Siu Lơl, người làng đều cảm thấy rất đỗi tự hào và gọi ông với cái tên nghe rất mỹ miều: “người đàn ông tài hoa”!

Ông Siu Lơl đang hướng dẫn cách đan gùi nắp cho một thanh niên trong làng. Ảnh: Phương Dung

Đóng đáy trên biển Vũng Tàu

Dạo bước trên bãi biển Vũng Tàu du khách sẽ ấn tượng với những chiếc chòi được ngư dân xây dựng cách bờ biển khoảng chừng 1 km để làm nghề đóng đáy. Chúng tôi theo chân những ngư dân ra biển để khám phá nghề đóng đáy độc đáo có từ lâu đời. 

Theo chân anh Nguyễn Văn Bằng ra đóng đáy, thuyền đưa chúng tôi tiến sát vào hàng dây chăng giữa giàn đáy. Những cột bê tông to như cột nhà, được chằng chéo cả chục sợi dây, ghim chặt xuống đáy biển. Nối các cột là những hàng dây thừng căng cứng, ở giữa có ghép lưới vây kín khẩu đáy. Anh Bằng chia sẻ: “Gia đình có truyền thống nghề biển. Năm 1968, thấy người dân địa phương làm nghề đóng đáy nhiều nên ông cũng làm theo”. Hiện anh Bằng có ba giàn đáy, 18 nhân công và 2 thuyền chuyên chở. Giàn đáy nhỏ nhất chi phí xây dựng gần 200 triệu đồng. Nghề đóng đáy làm được quanh năm. Ba giàn đáy của anh Bằng thu được khoảng 100 triệu đồng/ tháng.

Được biết, nghề đóng đáy ở Vũng Tàu là nghề cha truyền, con nối. Nghề này được ngư dân vùng biển phía Nam Việt Nam nghĩ ra để đánh bắt thủy sản. Khu vực đóng đáy nằm ở những chỗ có mức nước sâu từ 15 - 16m, người ta đặt những cây cột gỗ hoặc bê tông từ 17 – 18 mét xuống lòng biển.

Người dân Tp. Vũng Tàu có một nghề truyền thống hết sức độc đáo đó là nghề đóng đáy. Ảnh: Tất Sơn

Tranh dân gian Hàng Trống

Tranh dân gian Hàng Trống là một trong những dòng tranh độc đáo, kết tinh nhiều giá trị thẩm mỹ, tinh thần và tín ngưỡng của người Kinh kỳ xưa. 

Tranh dân gian Hàng Trống ra đời tại Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XVI, là kết quả giao thoa tinh hoa giữa Phật giáo và Nho giáo, được các nhà nghiên cứu đánh giá không chỉ mang đậm tính thẩm mỹ, sự tinh tế của kỹ thuật in khắc gỗ, kỹ thuật pha màu, mà còn mang đậm yếu tố văn hóa, thời đại mà nó sinh ra.

Thời kỳ được cho là hoàng kim của dòng tranh này đó là vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Khi đó, tranh Hàng Trống được bán ở khắp các khu vực Hàng Bồ, Hàng Nón, Hàng Trống.

“Các con phố thủa đó quanh năm nhộn nhịp với tranh, người khắp nơi đổ về mua tranh để thờ phụng và chơi Tết. Mỗi dịp cuối năm, các chiếu tranh Hàng Trống bày bán la liệt ở hè phố tạo ra một nét riêng cho cái Tết của Hà Nội”, nghệ nhân Lê Đình Nghiên nhớ lại những ký ức tuổi thơ gắn liền với thời kỳ phồn thịnh của tranh dân gian Hàng Trống. Hiện nay, ông là người nghệ nhân cuối cùng của dòng tranh này và cũng là người duy nhất còn giữ được bí quyết nghề vẽ tranh dân gian Hàng Trống.

Ông Lê Đình Nghiên người nghệ nhân duy nhất còn lại của dòng tranh Hàng Trống.

Phỗng đất Bắc Ninh

Phỗng đất là món đồ chơi truyền thống của trẻ em Việt Nam thời xưa, cũng là món đồ được các đền, chùa sử dụng trong cúng bái. Nặn phỗng đất ở thôn Đông Khê, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh đã trở thành nét đẹp văn hóa dân gian, góp phần giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử, bản sắc văn hóa Việt. 

Trong mâm cỗ Trung thu ngày xưa, ngoài mâm ngũ quả, bánh kẹo… nhất định phải có một bộ phỗng đất, đèn ông sao và một ông tiến sĩ giấy.

Bộ phỗng đất truyền thống gồm 5 hình tượng: đứng giữa là Đức Phật, mang ý nghĩa tâm linh, mong muốn con cháu luôn phải sống có lương tâm, đạo đức; hình tượng thứ 2, 3 là ông già và em bé, tượng trưng cho sự tiếp nối giữa các thế hệ; thứ 4 là con chim, thể hiện cho khát vọng tự do, hòa bình; cuối cùng là con rùa, tượng trưng cho sức mạnh và sự trường tồn.

Để làm một bộ phỗng đất cũng khá kỳ công. Nguyên liệu làm phỗng đất là đất sét và giấy bản. Đất sét được đào ở độ sâu từ 2-2,5m, đem phơi khô, đập, giã thành bột mịn rồi sàng, đến khi sờ vào có độ mịn mát tay là được. Giấy bản ngâm trong nước 7 ngày, sau khi đã mủn hoàn toàn thì trộn đất và giấy với nhau, vừa trộn tay, vừa dùng chày đập cho đến khi hỗn hợp này quyện lại rồi mang ra nặn, nặn xong phơi ra ngoài ánh nắng mặt trời cho khô. 

Đất dùng để nặn phỗng là đất sét có độ mịn và sạch. Ảnh: Khánh Long

Tranh Đông Hồ - Hơi thở của làng Việt

Từ xa xưa, người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã có thói quen mua tranh Đông Hồ về trang hoàng nhà cửa vào dịp Tết với ước mong hạnh phúc no ấm. Vì thế, Tranh Đông Hồ đi vào cuộc sống của người Việt qua nhiều thế hệ và đã được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đến nay, Tranh Đông Hồ đã vượt ra khỏi làng quê, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, thời trang, gốm sứ đang mang lại sức sống mới cho dòng tranh đã trải qua thăng trầm của thời cuộc. 

Bảo tồn nét đẹp Tranh Đông Hồ 


Tranh Đông Hồ có xuất xứ từ thế kỷ 17 ở làng Đông Hồ, xã Song Hồ huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng năm 1945, làng Đông Hồ có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh. Trải qua thăng trầm của thời gian đến nay làng Đông Hồ còn 2 gia đình làm tranh là gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam và Nguyễn Đăng Chế. Họ đã bảo tồn được hơn 1000 bản khắc gỗ và phục chế 500 bản mẫu cổ.


14 thg 10, 2019

Ấn tượng những giá hầu đồng đặc sắc trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ

3 năm sau khi Di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, các hoạt động nghi lễ đặc sắc gắn liền với di sản này diễn ra sôi nổi ở nhiều địa phương. Ấn tượng nhất trong số đó là nghi lễ hầu đồng. 

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Theo các nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng, Tam phủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu tương ứng với các miền khác nhau trong vũ trụ: Thiên phủ (miền Trời), Nhạc phủ (miền rừng núi) và Thoải phủ (miền sông nước). Đứng đầu mỗi phủ là một vị thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Trong ảnh là quang cảnh một điện thờ Mẫu điển hình. 

Khám phá ẩm thực dân tộc Thái ở miền Tây xứ Nghệ

Cá nướng than hồng thơm ngon ở miệt biển Nghệ An

5h sáng mỗi ngày, trong dãy ki ốt dọc chợ hải sản Nghi Thủy (TX. Cửa Lò) đã bập bùng ánh than hồng. Những người phụ nữ nhanh nhẹn bưng những thùng cá thửng, cá thu, cá trích... đặt xung quanh bếp. Chốc lát, mùi thơm mặn mòi vị biển như "đánh thức" tất cả mọi người. Món cá nướng sạch lành đã trở thành đặc sản theo tay người đi muôn xa. 

Ở Nghi Thủy, cá được nướng bằng than củi. Những mẻ than đượm hồng được giữ ở nhiệt độ ổn định, giúp cho cá chín đều hai mặt, màu cá nướng vàng đẹp. Ảnh: Hải Vương 

Múa rồng đất Thăng Long

Múa rồng là một môn nghệ thuật múa dân gian đường phố của người Thăng Long - Hà Nội, thường được biểu diễn trong các dịp lễ Tết, vì rồng là vật linh thiêng, tượng trưng cho thịnh vượng, phát đạt và hạnh phúc. Với ý nghĩa đó, Liên hoan múa Rồng Hà Nội năm 2019 - một trong những sự kiện văn hóa nghệ thuật lớn, hướng tới chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2019). 

Rồng là con vật thiêng liêng gắn liền với truyền thuyết của văn hóa Việt Nam. Trong xã hội phong kiến trước đây, rồng tượng trưng cho sự cao quý và uy quyền của bậc vua chúa. Rồng xuất hiện ở hoàng cung, chùa chiền, miếu mạo và trong dân gian. Sách cổ phương Đông coi thủy tổ loài người từ rồng mà ra và cho rằng các bậc vua chúa, thánh hiền đều là con cháu tiên rồng.

 Liên hoan Múa rồng Hà Nội 2019 góp phần tạo nên một không gian văn hóa truyền thống độc đáo, là một sản phẩm du lịch dành cho đông đảo người dân và du khách trong những ngày Hà Nội đang sôi nổi các hoạt động kỷ niệm 65 năm ngày Giải phóng Thủ đô.

Từ hình tượng rồng trong dân gian, cha ông ta đã có sự tìm tòi phát triển thành nghệ thuật múa rồng mang dấu ấn văn hóa Việt. Múa rồng là một trong những điệu múa cổ của dân tộc mà cái nôi phát triển loại hình múa này là mảnh đất Thăng Long xưa (Hà Nội ngày nay).

Chùa Keo Hành Thiện – Di tích Quốc gia đặc biệt

Chùa Keo Hành Thiện, gồm Chùa Keo trong (Thần Quang tự), Chùa Keo ngoài (Đĩnh Lan tự), thuộc làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Chùa từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, không gian yên tĩnh. Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng gần sông Hồng và sông Ninh Cơ. 


Chùa Keo Hành Thiện là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam, được bảo tồn gần như nguyên vẹn, với nét kiến trúc độc đáo 400 năm tuổi. Phía trước Tam quan có hồ bán nguyệt và hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. 

Hà Tiên, thành phố của những cánh đồng xanh

Mùa nước đổ, những cánh đồng ở thành phố biên giới Hà Tiên khoác lên mình những màu sắc đặc trưng của một vùng bán sơn địa.

Phần lớn đồng lúa ở đây có diện tích nhỏ để giữ nước trời, suốt vụ không thể chủ động bơm tưới, người dân thuận theo tự nhiên

Trong chuyến đi Hà Tiên lần này, chúng tôi khá bất ngờ vì giữa lúc miền Tây Nam bộ đang trong mùa lũ muộn thì vùng đất Hà Tiên lại phủ sắc xanh vàng của những cánh đồng chưa gặt. Ngoại trừ những đồng năng trũng thấp, nước ngập ngang lưng, nơi đây không có vẻ gì của một mùa lũ đang về. Nước xăm xắp, những thửa ruộng đang thong dong vào vụ mới.

13 thg 10, 2019

Du lịch vùng phi quân sự của Quảng Trị

Là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử nhất Việt Nam, Quảng Trị được mệnh danh là “Bảo tàng” sinh động nhất về di tích chiến tranh và là địa phương duy nhất tại Việt Nam phát triển mô hình du lịch DMZ (Demilitarized Zone - du lịch vùng phi quân sự). 

Sông Thạch Hãn, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, hàng rào điện tử McNamara, địa đạo Vịnh Mốc, Sân bay Tà Cơn, nhà tù Lao Bảo, Dốc Miếu, đường mòn Hồ Chí Minh, Đảo Cồn Cỏ… đã và đang trở thành “thương hiệu” du lịch của Quảng Trị. Mô hình du lịch độc đáo này ngày càng thu hút 1 lượng lớn du khách tới tham quan, khám phá, bao gồm cả du khách trong nước và quốc tế.

Sông Thạch Hãn
Đây là con sông gắn liền với lịch sử của tỉnh Quảng Trị như chiến dịch mùa hè đỏ lửa năm 1972. Đã có rất nhiều người lính vĩnh viễn nằm lại nơi đáy sông ở độ tuổi mới mười tám đổi mươi. Riêng trận Thành cổ con sông đã nuốt khoảng 1000 chiến sĩ. 

Thả hoa, hương tưởng nhớ các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh (ảnh sưu tầm) 

Tìm về đập Cây Gáo

Giữa cánh đồng ruộng liên thôn Hoà Thọ và Vinh Thọ, xã Hành Phước (Nghĩa Hành), vào năm 1965 đã xảy ra vụ thảm sát đập Cây Gáo. Đập Cây Gáo ngày ấy nay không còn, nhưng câu chuyện lịch sử thì vẫn được người dân nhắc đến.

Ông Phạm Ngọc Quân (74 tuổi) ở thôn Vinh Thọ, xã Hành Phước kể: Ngày trước, đập Cây Gáo được nông dân trong xã xây dựng để phục vụ tưới, tiêu cho ruộng lúa. Dọc hai bên bờ đập là gò đất cao, mọc nhiều cây gáo lâu năm đan xen, do vậy nơi đây là nơi ẩn nấp của người dân khi địch mở những cuộc hành quân càn quét.

Tại cánh đồng lúa này là nơi đã xảy ra vụ thảm sát đập Cây Gáo. Ảnh: PV 

Về Cổ Lũy nghe chuyện trăm năm...

Cửa biển Cổ Lũy, xã Nghĩa Phú (TP.Quảng Ngãi) không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng, hữu tình được Tâm Minh Hầu Nguyễn Cư Trinh đặt tên “Cổ Lũy cô thôn” trong bài vịnh Quảng Ngãi thập nhị cảnh, mà còn là nơi có nhiều câu chuyện văn hóa, tín ngưỡng ở vùng quê một thời thương thuyền tấp nập. 

Cửa biển Cổ Lũy là nơi hợp lưu của sông Trà Khúc và các chi nhánh của con sông Vệ đổ về dòng sông Vực Hồng, xã Nghĩa Hòa (Tư Nghĩa), sông Phú Thọ, xã Nghĩa Phú nối sang. 


Dấu xưa nơi cửa biển 


Hàng trăm năm trước, cửa biển Cổ Lũy là nơi đi, về của các thương thuyền. Từ thượng nguồn, các ghe bầu đưa nông, lâm sản xuống trao đổi, buôn bán. Từ các tỉnh, thành trong Nam, ngoài Bắc và cả nước Trung Hoa... ra vào cửa biển Cổ Lũy để buôn bán hải sản, thương phẩm.

Bà Võ Thị Tâm (96 tuổi), ở thôn Thanh An, xã Nghĩa Phú, nhà gần bên cửa biển Cổ Lũy, cho hay: "Ngày đó, cứ chiều xuống là tàu thuyền tấp nập. Mới sáng tinh mơ, dọc dài ven bờ sông Phú Thọ nhộn nhịp người mua, kẻ bán". 

Sông Phú Thọ, xã Nghĩa Phú (TP.Quảng Ngãi). ẢNH: LÊ VĂN THUẬN 

Dân dã cà pháo muối chua ngọt

Từ lâu, cà pháo muối chua đã có trong thực đơn bữa cơm truyền thống của người Việt. Món ăn này bình dị, nhưng lại đậm đà, khó quên. 

Ngày trước, khi ngoại tôi còn khỏe, trước nhà lúc nào cũng trồng dăm ba cây cà pháo. Lúc còn nhỏ, tôi đã cùng bà đi hái cà và được bà chỉ dạy các công đoạn muối cà pháo.

Cà pháo muối chua ngọt ăn cùng thịt, rau luộc là món ăn yêu thích của nhiều người. 

Để làm được món cà pháo muối chua thơm ngon, bà tôi bảo nên lựa những quả cà không quá to. Nếu cà mua ngoài chợ còn tươi, mới hái, thì sau khi mua về, phải đem phơi nắng vài tiếng đồng hồ cho heo héo rồi cắt bỏ phần cuống, nhưng lưu ý đừng cắt quá sát. Sau đó, ngâm cà pháo vào nước muối pha loãng, rồi vớt ra rửa sạch, để ráo.

Thương nhớ cá căn sông...

Cá căn là loài cá có thịt béo, thơm và sống được ở vùng nước chè hai lẫn nước mặn. Song thơm ngon hơn cả vẫn là thịt cá căn sống ở vùng nước lợ nơi cửa sông. Bởi vậy, dù cá căn sông nhỏ và khó tìm hơn so với cá căn biển, nhưng vẫn được nhiều thực khách ưa chuộng.

Cá căn là loài cá có thân hình dẹp, vây cứng tương tự cá rô đồng, nhưng mình màu trắng bạc, có hai sọc đen chạy dọc trên phần thân gần sống lưng. Có lẽ, chính bởi những sọc đen trên thân khá giống loài ong, mà cá căn còn có tên gọi dân dã khác là cá ong.

Nếu như cá căn biển khi lớn có kích thước cỡ bàn tay người lớn, với trọng lượng nửa ký hoặc hơn, thì cá căn ở cửa sông chỉ nhỏ cỡ một đến hai ngón tay. Sống ở vùng nước chè hai, có sự hòa trộn giữa nước biển và nước sông, đã tạo nên hương vị khác biệt cho loài cá căn sông.

Bên trong lớp vảy cá màu trắng bạc là lớp thịt trắng ngần. Ngon nhất là phần thịt ở gần sóng lưng và bụng cá, ăn chỗ này có cảm giác béo, dai và rất ngọt. Thịt cá căn sông có vị ngọt đậm đà, béo và dai, nhưng không làm người ăn cảm thấy ngấy.

Cá căn sông nấu ngọt chấm nước mắm nhỉ là món ăn "gây thương nhớ" của người dân hạ lưu sông Trà Bồng, Trà Khúc. 

Gắn kết di sản cha ông với du lịch làng nghề truyền thống

Ngôi đình làng Nguộn với 29 đạo sắc phong gắn với những danh tích của các vị anh hùng, thành hoàng cùng với bao thăng trầm của làng quê có thể được gắn kết trong hành trình khám phá mảnh đất “danh hương”, “trăm nghề” Thường Tín. 

Niềm tự hào của làng 


Đặt ngay trên đường Quốc lộ 1A, nối giữa làng nghề gỗ Vạn Điểm với phố thị sầm uất nhưng đình làng Nguộn (thôn Nguyên Hanh, xã Văn Tự, huyện Thường Tín, Hà Nội) vẫn giữ được vẻ đẹp bình yên, cổ kính. Sân đình rêu phong với tán cây xanh mát, đường đi làm bằng gạch Bát Tràng dẫn lối cho du khách tới thăm và tìm hiểu về “kho báu” của làng - 29 bản sắc phong của 10 đời Hoàng Đế các triều đại như vua Lê Dụ Tông, Lê Đế, Quang Trung, Quang Toản, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định … ban tặng.

Các bậc cao niên trong làng trân trọng 29 đạo sắc phong của cha ông. 

Đặc sắc lễ rửa làng của dân tộc Lô Lô

Với những nghi thức đặc sắc, độc đáo, lễ rửa làng của dân tộc Lô Lô (thôn Sảng Pả A, thị trấn Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang) không chỉ là một sự kiện mang tính tín ngưỡng dân gian mà còn là nét đẹp văn hóa được lưu truyền từ đời này tới đời khác của đồng bào nơi đây.

Nét đẹp văn hóa


Lễ rửa làng bắt nguồn từ một sự tích là một năm bao giờ cũng có cái may và cái rủi. Dù thu hoạch mùa màng vụ vừa rồi thắng lợi, nhưng người ta vẫn nghĩ tới rủi ro. Thế là họ phải rửa làng cho sạch sẽ, khang trang.

Lễ rửa làng của dân tộc Lô Lô 3 năm tổ chức một lần thường là vào ngày 15/5 và 05/6 âm lịch, người dân trong vùng tập trung lại, họp bàn trong dòng họ dân tộc Lô Lô để bàn bạc chuẩn bị chọn ngày đẹp, mua đồ lễ, mời thầy cúng làm lễ. Theo phong tục người Lô Lô cúng xong 9 ngày sau không cho người lạ vào trong làng, với ý nghĩa người lạ vào làng là phần cúng đó không thành công, tà ma lại quay về. Và phạt người lạ đó mua lễ vật và bắt đầu cúng lại lần nữa.

Đồng bào Lô Lô tái hiện lễ rửa làng tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Ngọc Tân 

Những “đặc sản” giúp biển Ninh Chữ nổi tiếng thế giới

Với lợi thế 2 mùa gió cùng bãi biển Ninh Chữ được xem là 1 trong 9 bãi tắm đẹp nhất của Việt Nam và ngày càng quen thuộc với các tín đồ du lịch... 

Ninh Chữ (Ninh Thuận) đang ngày càng quen thuộc với tín đồ du lịch Việt trong khoảng 2 năm gần đây. Thế nhưng, thật thú vị khi trước đó, vùng biển này đã được biết tới rộng rãi trong cộng đồng hàng triệu du khách quốc tế từ nhiều năm nay…

Khi Ninh Chữ “hớp hồn” du khách quốc tế 


Trong hành trình khám phá của mình, Mark Gwyther, blogger du lịch người Mỹ đã dừng chân ở bãi biển Ninh Chữ. Bằng con mắt nhà nghề của một chuyên gia tư vấn quản lý và đầu tư bất động sản cùng trải nghiệm từng có ở nhiều vùng đất khắp thế giới, Mark Gwyther đã chia sẻ những thông tin thú vị về Ninh Chữ trên trang citypassguide.com.

Với Mark Gwyther, lý do rõ ràng nhất để đến với du lịch Phan Rang là bãi biển. “Vịnh Ninh Chữ, một đường lưỡi liềm dài 10 km lộng lẫy, được coi là một trong chín bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Hầu hết thời gian trong năm, biển an toàn để bơi. Bình minh vô cùng ngoạn mục và thật thú vị khi được chứng kiến người dân địa phương trải qua các hoạt động buổi sáng”, Mark Gwyther viết. 

Ninh Chữ đẹp đến mê mẩn trong mỗi khoảnh khắc của ngày... 

Lễ Kin Pang Then của người Thái Trắng Điện Biên

Lễ Kin Pang Then là một trong những di sản văn hóa đặc sắc trong nghệ thuật hát Then của người Thái trắng tại Điện Biên, đến nay vẫn được trao truyền. 

Lễ Kin Pang Then thường diễn ra vào dịp đầu năm mới (sau Tết nguyên đán) khi tiết trời mát mẻ, vạn vật sinh sôi, cây cối nảy lộc, đâm chồi, đơm hoa, kết trái. Vào thời điểm thiên nhiên như hòa quyện với lòng người cũng là lúc thầy Then tổ chức lễ Kin Pang Then để gặp mặt các con nuôi về mừng mệnh Then được “vững như trụ bạc, chắc như trụ vàng". 

Nhà cổ Đức An - dấu ấn lịch sử ở phố Hội

Nhà cổ Đức An không chỉ là một kiến trúc đặc sắc mà còn là một dấu ấn lịch sử ở phố cổ Hội An, một chứng tích qua những thăng trầm thời cuộc của đất nước 

Nhà cổ Đức An có địa chỉ tại số 129 đường Trần Phú – trung tâm khu phố cổ Hội An – TP Hội An – tỉnh Quảng Nam. Công trình được xây dựng cách gần đây 190 năm – giữa thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn năm 1830. Ngôi nhà do cụ tổ họ Phan để lại cho con cháu làm từ đường thờ cúng. Cho tới nay đã có 8 đời sinh ra và lớn lên ở ngôi nhà này. 

Cuối tuần, lên Mường La tắm khoáng nóng Ngọc Chiến

Suối khoáng nóng ở bản Lướt, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La được xem như là đặc ân của tạo hóa. 

Nằm ở độ cao 1.600 mét so với mực nước biển, cách trung tâm thành phố Sơn La gần 80 km, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La là một trong những điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Sơn La. 

Một sớm tại Lăng Kiên Thái Vương

Lăng của Kiên Thái Vương (1845-1876) tọa lạc trên một ngọn đồi kế bên lăng Vua Đồng Khánh ở phía Nam kinh thành Huế. 

Kiên Thái Vương là cha đẻ của ba vị vua triều Nguyễn: Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm Nghi. Lăng Kiên Thái Vương nằm trên một ngọn đồi kế lăng Vua Đồng Khánh. 

Ngắm sông Nho Quế, vượt hẻm Tu Sản, Hà Giang

Sông Nho Quế, Hà Giang được vinh danh là một trong những Thung lũng Kiến tạo độc nhất vô nhị của Việt Nam. 

Nằm dưới chân những ngọn núi tai mèo hiểm trở của Hà Giang, dòng sông Nho Quế quanh năm êm đềm chảy giữa những vách đá, tạo thành một đường biên giới màu xanh biếc giữa đèo Mã Pí Lèng và đường Săm Pun. 

Khăn Piêu trong đời sống đồng bào dân tộc Thái

Trong văn hóa của đồng bào dân tộc Thái, chiếc khăn Piêu chứa đựng nhiều ý nghĩa đời sống và tâm linh sâu sắc. 

Trong sắc phục của phụ nữ đồng bào dân tộc Thái, khăn Piêu là vật không thể thiếu, được dùng trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, che nắng, che gió, giữ ấm về mùa đông. Ngoài ra còn vừa là điểm nhấn để tôn lên vẻ đẹp riêng có của người con gái Thái. 

“Nín thở” trên những con đèo Hà Giang đẹp không kém Mã Pí Lèng

Con đường Hạnh Phúc trên cao nguyên đá Hà Giang có đèo dốc khiến các tay lái phải "nín thở", vì độ hiểm trở và vì khung cảnh quá tuyệt đẹp. 

Hà Giang là vùng đất cực Bắc của Tổ quốc, nơi sở hữu nhiều thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú và màu sắc văn hóa đa dạng của các dân tộc bản địa Mông, Dao, Lô Lô,... Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn trải rộng trên 4 huyện tạo nên cho Hà Giang một đặc sản riêng: những cung đường qua miền đá. 

Đầm Quảng Lợi - điểm đến thú vị của Phá Tam Giang

Đầm Quảng Lợi thuộc xã Quảng Lợi, Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế là điểm đến thú vị của Phá Tam Giang. 

Đầm Quảng Lợi cách thành phố Huế về phía bắc chừng 30km, thuộc xã Quảng Lợi, Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. 

Kỳ lạ người Dao Đỏ nhảy múa trên than hồng mà không bị bỏng

Trong những ngày rong ruổi vùng Đông Bắc, chúng tôi đã được chứng kiến một lễ hội có một không hai của người Dao Đỏ, đó là lễ hội nhảy lửa.

Chàng trai Dao Đỏ nhảy trên than hồng. Bình Nguyên 

Những người tham gia nhảy lửa khẳng định, chính những thế lực siêu nhiên đã ban tặng cho họ lòng dũng cảm vô biên, sự tự tin và được che chở, bảo vệ… Khi nhảy trên đống than hồng, họ không hề có cảm giác bỏng rát hay sợ hãi. 

11 thg 10, 2019

Về Nhơn Trạch ''chơi sông nước, ăn đặc sản''

Có sông nước, có rừng ngập mặn, có nhiều địa danh gắn với các chiến công trong lịch sử và đặc biệt có nhiều món ăn ngon, thức uống nổi tiếng..., Nhơn Trạch là nơi hội tụ nhiều tiềm năng phát triển du lịch.

Khách du lịch trải nghiệm các trò chơi ở Khu du lịch sinh thái Bò Cạp Vàng (xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch). Ảnh: H.Lộc

Ruộng bậc thang Chuôr ôm ấp bản làng giữa đại ngàn Trường Sơn

Dưới thung lũng nhỏ có con suối chảy quanh, ruộng bậc thang Chuôr hệt dải lụa vắt giữa hai thôn Arâng và thôn Ariing, xã Axan, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.

Cánh đồng Chuôr hệt dải lụa e ấp dưới chân đại ngàn Trường Sơn - Ảnh: TẤN LỰC

Nằm khép giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, ruộng bậc thang Chuôr mùa lúa trổ đòng mơn mởn xinh xắn như nét đẹp cô gái Cơ Tu đương tuổi dậy thì.

Mùa tháng 10, sương mù còn đậm đặc thung lũng trong sáng tinh sương. Theo nhịp điệu mặt trời, những vạt ruộng bậc thang Chuôr mờ mờ ảo ảo dần hiện rõ hình hài từng giờ, từng khắc.

Muối kiến – nét độc đáo trong ẩm thực Tây Nguyên

Đến phố núi Tây Nguyên, du khách không chỉ thu hút với phong cảnh hùng vĩ nơi đây mà còn bất ngờ với sự độc đáo trong ẩm thực. Những món ăn nơi đây đa phần được chế biến từ những nguyên liệu thiên nhiên, gần gũi với con người. Trong đó, muối kiến có lẽ là món ăn đặc trưng hơn cả.


Khám phá dọc miền đất nước, thực khách sẽ thấy người Cao Bằng lấy trứng kiến để làm bánh, đến Bình Định thì có món nộm trứng kiến vàng níu chân thực khách. Và đến khi ghé thăm Gia Lai thì khó ai có thể quên với một loại đồ chấm tận dụng cả thân của con vật này, đó là muối kiến.

10 thg 10, 2019

Động Tiên Sơn giữa núi rừng Tây Bắc

Động còn nguyên nét hoang sơ với nhiều nhũ đá đẹp, con sông nhỏ chảy quanh suốt 4 mùa không cạn nước. 

Hang động Tiên Sơn thuộc xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, cách thị trấn Sa Pa hơn 40 km. Đây là một trong những hang đá đẹp của vùng Tây Bắc còn giữ được nguyên vẻ hoang sơ.

Trước cửa động có nhiều cây xanh mọc ra từ vách đá khô cằn trông lạ mắt. 

Trước đây, người dân địa phương thường gọi là động Đán đòn hoặc Đá trắng. Năm 1996, động Tiên Sơn được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích thắng cảnh cấp Quốc gia. Đến năm 2008, nơi đây được quy hoạch thành khu du lịch.

Bên trong rừng tràm Trà Sư mùa nước nổi

Khu rừng hơn 800 ha có những lối đi màu xanh hút tầm mắt, là nơi sinh sống của hàng trăm loài động, thực vật đặc trưng của phương Nam. 

Rừng tràm trà sư có diện tích hơn 800 ha nằm ở huyện Tịnh Biên, An Giang. Đây là một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất miền Tây Nam Bộ, cách thành phố Châu Đốc khoảng 20 km về hướng nam. 

Mùa hoa súng trên đồng lũ Long An

Đồng ruộng mùa lũ ngập tràn sắc màu hoa súng cùng với nhịp sống bình dị của người dân như mời gọi du khách ghé thăm. 

Cụ bà lội nước hái hoa súng dại trên cánh đồng Kiến Tường. Lũ về, các huyện đầu nguồn tỉnh Long An như Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa và thị xã Kiến Tường, nước ngập đến chân ruộng. 

Bún cá ăn cùng trứng vịt lộn ở Búng Bình Thiên

Món bún cá kèm trứng vịt lộn của chị Bích Huyền nổi tiếng quanh Búng Bình Thiên - một trong những hồ nước ngọt lớn nhất Tây Nam Bộ. 

Bún cá, một đặc sản nổi tiếng ở An Giang, được du nhập từ nước bạn Campuchia. Ngày nay, món ăn dưới đôi bàn tay khéo léo của người Việt đã trở nên quen thuộc và thành trải nghiệm khó có thể bỏ qua.


Bún cá ăn kèm hột vịt lộn có giá từ 20.000 đồng. Ảnh: Di Vỹ. 

Du khách tấp nập chụp ảnh với cỏ tranh ở Đại Nội Huế

Đại Nội Huế đang vào thời điểm đẹp nhất với tiết trời mát mẻ, hoa cỏ tranh nở trắng xóa. 

Những ngày qua, hoa cỏ tranh trong Đại Nội Huế (Thừa - Thiên Huế) nở trắng, hấp dẫn nhiều người tìm đến chụp ảnh "sống ảo". Cỏ tranh thường nở hoa vào cuối tháng 9 và tháng 10 hàng năm. 

Ngôi nhà hơn 120 năm tuổi cho khách ở lại qua đêm

Du khách phải trả 550.000 đồng một phòng để ở lại nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, trải nghiệm cảm giác sống trong căn nhà của quý tộc xưa. 

Ngôi nhà cổ Huỳnh Thủy Lê (TP Sa Đéc, Đồng Tháp) do ông Huỳnh Cẩm Thuận, một thương gia người Hoa giàu có xây dựng vào năm 1895 giữa khu thị tứ náo nhiệt ven sông Sa Đéc. 
Căn nhà có diện tích 258 m2, được xây lối kiến trúc phương Tây pha trộn kiểu Hoa. Về sau, người con trai út của ông là Huỳnh Thủy Lê nhận quyền thừa kế ngôi nhà. 

Thánh đường Hồi giáo ở An Giang

Các tín đồ người Chăm cầu nguyện trước một hốc tường hướng về phía tây, trong không gian gần như trống trơn để tránh xao lãng. 

Thánh đường Mas Jid Khay Ri Yah ở xã Nhơn Hội, huyện An Phú là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi (hay Chăm Islam) sống tại địa phương. Đây cũng là một trong những điểm tham quan của du khách khi tới Búng Bình Thiên rộng 200 ha, một trong những hồ nước ngọt lớn nhất miền Tây Nam Bộ. 

Lặn bắt và ăn nhum biển ở đảo Hải Tặc

Từ đảo Hải Tặc đi thuyền khoảng 30 phút, bạn sẽ đến điểm lặn để bắt và thưởng thức nhum theo cách của người dân. 

Quần đảo Hải Tặc không nổi tiếng như Phú Quốc hay Nam Du nhưng vẫn thu hút du khách nhờ cảnh vật còn hoang sơ. Quần đảo thuộc xã Tiên Hải, huyện Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Từ bến tàu ở TP Hà Tiên, bạn mất hơn một giờ để di chuyển ra đảo, giá vé tàu cao tốc là 100.000 đồng một chiều. 

Quán cà phê trong căn nhà cổ

Nằm ở quận Bình Thạnh, The Home là một trong những quán cà phê có phong cách mộc mạc, mang lại cảm giác bình yên cho khách. 

Quán cà phê nằm trên đường Nguyễn An Ninh, quận Bình Thạnh, không ấn tượng bởi mặt tiền hay biển hiệu như thường thấy, nhưng dễ nhận ra bởi một cây hoa giấy và bụi tre tươi tốt phủ bên trên. Cổng vào quán có kích thước khiêm tốn với mái lá và gạch mộc. Lối vào là những viên đá xếp ngẫu hứng với hai hàng cây xanh. Khoảng sân nhỏ luôn mát nhờ cây hoa giấy và bụi tre che phía trên.