8 thg 2, 2017

Chiêm ngưỡng 18 Bảo vật Quốc gia

Là đại diện cho các thời đại lịch sử, 18 bảo vật được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Quốc gia phần nào phản ánh diện mạo lịch sử văn hóa, tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Mỗi cổ vật ẩn chứa thông điệp từ quá khứ, những câu chuyện thú vị dành cho người xem. 

Nhằm góp phần tôn vinh, quảng bá giá trị của các Bảo vật hiện có, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã tổ chức sự kiện trưng bày đặc biệt: “Bảo vật quốc gia Việt Nam". 18 bảo vật được đặt trong không gian trưng bày trang trọng nhất của Bảo tàng ngay tại sảnh chính. Với những công nghệ chiếu sáng 3D hiện đại lần đầu được áp dụng, không gian trưng bày sự kiện đã đem lại cảm xúc rất mới với khách thăm quan. 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia lần đầu tiên trưng bày 18 bảo vật quốc gia đang lưu giữ. Các bảo vật gắn liền với quá trình hình thành quốc gia, dân tộc, từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn cách đây hàng nghìn nămđến thời quân chủ chuyên chế, các triều đại phong kiến, có hiện vật gắn liền với sự đấu tranh giải phóng dân tộc. Ảnh: Việt Cường


Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Lê Khánh Hải và các đại biểu thăm quan không gian trưng bày các bảo vật quốc gia. Ảnh: Việt Cường

Khách tham quan chiêm ngưỡng Môn hạ sảnh ấn. Ảnh: Công Đạt

Du khách nước ngoài thích thú ghi lại hình ảnh chiếc ấn vàng “Sắc mệnh chi bảo”. Ảnh: Công Đạt 

Đến với cuộc trưng bày du khách được giới thiệu một cách khái quát về những cổ vật vô giá từ thời văn hóa Đông Sơn cách đây hơn 2.000 năm, các thời đại của văn minh Đại Việt và các triều đại phong kiến cho đến khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Cùng với những câu chuyện lịch sử, văn hóa hấp dẫn được giới thiệu dưới dạng bảng thông tin, những đoạn phim ngắn trình chiếu ngày tại không gian trưng bầy đã giúp người xem thêm hiểu về những báu vật vô giá này.

Theo thông tin từ Ban tổ chức, cuộc trưng bày đặc biệt này sẽ kéo dài đến hết tháng 5-2017.

Trống đồng Hoàng Hạ, một trong những chiếc trống đẹp nhất của nền văn hóa Đông Sơn. Năm 1937,
trống được phát hiện khi đào mương tại thôn Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên (Hà Nội). Mặt trống trang trí hình mặt trời 16 tia, giữa các tia trang trí hoa văn lông đuôi chim công, cảnh sinh hoạt, chèo thuyền, xử tử tù binh... Cùng với nhóm trống Ngọc Lũ, Sông Đà, Cổ Loa, trống đồng Hoàng Hạ phản ánh đời sống vật chất, tinh thần phong phú của cư dân Đông Sơn, thể hiện đỉnh cao nghệ thuật đúc đồng thời dựng nước đầu tiên của dân tộc. Ảnh: Công Đạt

Thạp Đào Thịnh (đồng) có từ thời Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm
được Nhà nước công nhận Bảo vật quốc gia vào năm 2012. Trong văn hóa Đông Sơn, thạp đồng là di vật tiêu biểu sau trống đồng và chủ yếu chỉ xuất hiện trong phạm vi phân bố của nền văn hóa này.
Trong hàng trăm chiếc thạp đã phát hiện thì thạp Đào Thịnh là chiếc thạp có kích thước lớn nhất,
hoa văn trang trí phong phú, chặt chẽ, tinh mỹ và độc đáo nhất. Ảnh: Công Đạt

Đặc biệt trên nắp thạp có gắn đối xứng tâm 4 khối tượng nam nữ đang giao hoan, loại tượng mới gặp duy nhất trong nghệ thuật Đông Sơn. Bộ phận sinh dục của người đàn ông được nhấn mạnh bằng cách phóng đại so với tỷ lệ cơ thể, phản ảnh tín ngưỡng phồn thực với khát vọng vạn vật sinh sôi nẩy nở của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Việc người nam đeo dao găm ngay cả trong lúc sinh hoạt tình dục cho thấy vũ khí luôn thường trực bên người, phản ảnh trong văn hóa Đông Sơn đã phát sinh xung đột xã hội dẫn tới chiến tranh, là tiền đề hình thành các thủ lĩnh quân sự, tạo nên một trong những cơ sở vật chất hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc. Ảnh: Công Đạt

Những nét hoa văn đượm màu thời gian trên Thạp đồng Đào Thịnh. Ảnh: Công Đạt

Chiếc ấn vàng Sắc mệnh chi bảo nặng 8,3 kg, đúc vào năm 1827 dưới thời vua Minh Mệnh. Ấn có núm hình rồng cuốn, mặt ấn đúc nổi 4 chữ triện Sắc mệnh chi bảo. Ấn dùng để ban cấp cáo sắc cho văn võ cùng phong tặng thần và người. Đây là hiện vật độc bản, biểu trưng cho quyền lực nhà Nguyễn, có giá trị đặc biệt trong sưu tập kim bảo triều Nguyễn. Ảnh: Công Đạt

Cây đèn hình người quỳ bằng đồng, thuộc nền văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000-2500 năm. Cây đèn thể hiện hình tượng người đàn ông mình trần đóng khố tư thế đang quỳ, hai tay nâng đĩa đèn. Tượng có khuôn mặt bầu, mắt mở to, miệng hơi mỉm cười, quanh môi có ria mép. Đầu tượng được gắn vương miện, tóc để chỏm. Hai vai và sau tượng gắn 3 cành chữ S, mỗi cành chữ S đỡ một đĩa đèn và gắn một hình người đang quỳ. Trên hai đùi và đằng sau người đàn ông có 4 nhạc công cũng ở tư thế quỳ, hai nhạc công đang thổi sáo. Cánh tay, cổ tay có đeo trang sức, tai đeo hoa hình khuyên to tròn. Cây đèn là hiện vật độc bản, đại diện cho nghệ thuật cổ tiêu biểu vào thời kỳ cuối văn hóa Đông Sơn, có sự giao lưu với văn hóa Hán. Ảnh: Công Đạt

Mộ thuyền Việt Khê có kích thước lớn nhất, hiện trạng nguyên vẹn nhất chứa đựng nhiều đồ tùy táng quý hiếm của văn hóa Đông Sơn, niên đại 2.000-2.500 năm. Đây là loại quan tài bằng thân cây khoét rỗng, còn gọi là mộ thuyền đã phát hiện ở Việt Nam. Mộ chứa 109 đồ tùy táng gồm chủ yếu là các loại vũ khí, nhạc khí, công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt bằng đồng. Mộ thuyền được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2013. Ảnh: Tư liệu

Bia Võ Cạnh - tấm bia cổ nhất Đông Nam Á là khối đá có hình trụ đứng, trên 3 mặt khắc chữ Sanskrit. Đây là tấm bia cổ nhất còn lại của vương quốc cổ Champa. Bia khắc chữ Phạn cổ cho biết nhiều thông tin giá trị về lịch sử vương triều tiền vương quốc Nam Chăm. Ảnh: Việt Cường

Chuông chùa Vân Bản là chiếc chuông cổ nhất, lớn nhất, uy nghi nhất của nền văn minh Đại Việt, có niên đại thế kỷ 13-14 dưới thời Trần. Trên thân chuông khắc chữ Hán nói về những người có công khai phá sơn lâm, mở mang đất đai lập dựng chùa Vân Bản. Chuông là nguồn tài liệu quý để nghiên cứu lịch sử, văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung, thời Trần nói riêng. Ảnh: Công Đạt

Môn hạ sảnh ấn - chiếc ấn đồng có nội dung rõ ràng nhất, niên đại cụ thể nhất liên quan đến lịch sử hành chính trung ương triều Trần. Ấn được đúc dưới thời Trần, niên hiệu Long Khánh thứ 5 (1377), được phát hiện năm 1962 tại xã Hương Giang (Hương Khê, Hà Tĩnh). Sảnh Môn hạ là một trong những cơ quan hành chính trung ương cao nhất thời Trần, do vua Trần Minh Tông đặt ra. Cơ quan này thân cận nhà vua, có nhiệm vụ giữ bảo ấn, truyền lệnh của vua tới các quan, nhận lời tấu lên vua và các công việc lễ nghi trong cung. Chức quan ở sảnh này đều do các quan đại thần đảm nhiệm. "Môn hạ sảnh ấn" được dùng để đóng trên những văn bản hành chính quan trọng của triều đình, từ đời vua Trần Phế Đế (trị vì 1377-1388) về sau. . Ảnh: Công Đạt

Ấn vàng Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo do chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) cho đúc làm quốc bảo năm 1709. Thời vua Gia Long lên ngôi, bảo ấn được chọn làm báu vật truyền ngôi
của vương triều Nguyễn. Ảnh: Công Đạt

Bình vẽ thiên nga có từ thời Lê sơ (thế kỷ XV) có kích thước lớn nhất, nguyên vẹn nhất trong sưu tập hiện vật độc bản khai quật từ tàu đắm Cù Lao Chàm, Tp. Hội An (Quảng Nam). Bình dáng cao, vai phình, thân thuôn nhỏ. Hoa văn trang trí chia thành 7 băng phủ kín thân từ miệng xuống đáy. Băng hoa văn chủ đạo chiếm không gian lớn nhất ở giữa thân bình vẽ phong cảnh với 4 con thiên nga theo tích Phi, Minh, Túc, Thực: một con đang dang cánh bay, một con đang nghển cổ kêu, một con đang rúc đầu vào cánh ngủ và con còn lại đang kiếm ăn. Đây là cách chơi chữ và mượn hình biểu ý của người xưa nhằm gửi gắm ước nguyện được thăng tiến, tiền đồ xán lạn, giàu có, no đủ. Thời Lê sơ là giai đoạn phát triển huy hoàng của nghệ thuật gốm sứ cổ Việt Nam. Ảnh: Công Đạt

Trống đồng Cảnh Thịnh được đúc năm 1800 dưới thời Tây Sơn. Đây là hiện vật độc bản trong phức hợp trống đồng Việt Nam. Hoa văn trang trí chính đúc nổi đề tài tứ linh mang ý nghĩa biểu trưng đất nước thái bình thịnh trị, xã hội an lạc. Giá trị đặc biệt khác của trống Cảnh Thịnh chính là phần tư liệu. Bài minh văn dài 222 chữ dẫn thuyết lý do, mục đích đúc trống, nói về người trong xã là bà Nguyễn Thị Lộc, vợ của Tổng Thái giám Giao quận công vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời vua Lê Ý Tông (1736) đã tập phúc góp công dựng chùa Linh Ứng. Ảnh: Công Đạt

Cận cảnh những hoa văn cổ được khắc trên thân trống đồng Cảnh Thịnh. Ảnh: Công Đạt

Cùng với bản gốc, tập thơ “Nhật ký trong tù” còn được trưng bày dưới hình thức ảnh chụp toàn bộ
các trang và bản dịch tương ứng. Ảnh: Công Đạt

Đường Kách mệnh tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động cách mạng ở Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1925-1927, do Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông ấn hành bí mật và chuyển về nước. Đây được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối của cách mạng Việt Nam. Ảnh: Công Đạt 

Thực hiện: Công Đạt - Việt Cường