18 thg 1, 2026

Đồ án sân bay Đà Nẵng năm 1974

Các kiến trúc sư, nhà nghiên cứu lịch sử và các nhà lãnh đạo, quản lý của thành phố đều thống nhất nhận định rằng, Đà Nẵng có tính chất là một đô thị sân bay.

Sân bay Đà Nẵng chính thức khánh thành ngày 2/5/1929. Thư viện Quốc gia Pháp.

Xét trong tiến trình lịch sử thành phố, tính chất đô thị sân bay dần hình thành, bắt đầu từ những năm 1940 khi quân Nhật đóng quân, ưu tiên mở rộng sân bay Đà Nẵng và tiếp nối đến thời kỳ quân đội Mỹ chiếm đóng đến năm 1975.

Trong đó một câu chuyện chưa được nhắc đến là việc kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa với đồ án kiến trúc nhà ga sân bay Đà Nẵng năm 1974 - một mốc thời gian mà khi đọc lên chúng ta liền nghĩ đến sự “bất thành” của nó.

Sân bay Đà Nẵng trước 1975

Cuối năm 1954, khi Nha căn cứ hàng không Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hòa được thành lập tiếp tục công việc của Nha hạ tầng cơ sở của Pháp để lại, đã tiếp tục kiến tạo, tu bổ các sân bay, nỗ lực và kiện toàn cơ sở hàng không Việt Nam.

Từ năm 1960, trước tình hình chiến tranh leo thang, công tác kiện toàn và tăng cường hạ tầng cơ sở hàng không trở thành nhu cầu quan trọng, sân bay Đà Nẵng tiếp tục được khởi động mở rộng vào năm 1963 và hoàn thành khi quân Mỹ trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam năm 1965.

Tổng thể trước năm 1975, theo chỉ dẫn về những phi trường có tính cách chiến thuật ngày 15/6/1969 của cơ quan quân sự Hoa Kỳ cho biết “toàn miền Nam Việt Nam có đến 534 phi trường đủ loại: từ những phi trường quốc tế hạng A tiếp nhận được các loại phản lực cơ tối tân nhất, đến những phi trường trực thăng nhỏ bé chưa đầy 500m2². Thật là một con số cao nhất, không một quốc gia Đông Nam Á nào bì kịp. Trong tổng số 534 phi trường, chỉ có lối 50 phi trường thuộc loại quân sự, được phi cơ dân sự sử dụng”.

Riêng sân bay Đà Nẵng, “trong thời kỳ chiến tranh, tuyến quốc lộ số 1 thường bị gián đoạn, đường hàng không đáp ứng hầu hết dịch vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa từ Đà Nẵng đi Sài Gòn hay các tỉnh khác và ngược lại từ các nơi ấy đến Đà Nẵng. Ngoài ra, những khi có thiên tai, bão lụt hoặc có lúc biến cố quan trọng, phi trường Đà Nẵng góp phần hữu hiệu trong việc tiếp nhận phẩm vật cứu trợ và di tản”.

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa và đồ án nhà ga sân bay Đà Nẵng


Sau sự kiện Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 được ký kết, sân bay Đà Nẵng dần chuyển sang hoạt động dân sự mặc dù về mặt quản lý vẫn là sân bay quân sự.

Ngày 12/12/1973, Nha căn cứ hàng không (thuộc Bộ Công chánh và Giao thông) Việt Nam cộng hòa có công văn nêu quan điểm đặc tính căn bản phải được trù liệu ngay sau khi lập dự án sân bay Đà Nẵng. Nha hàng không đề xuất kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa vì: “Ông là một kiến trúc sư tư vụ lâu năm, đã đảm trách nhiều công trình to lớn tại thủ đô (Sài Gòn) và đặc biệt là đã đảm trách việc chỉnh trang Nhà ga hàng không quốc tế tại phi trường Tân Sơn Nhất năm 1962. Chúng tôi nhận thấy nên giao việc lập đồ án Nhà ga hàng không Đà Nẵng cho kiến trúc sư này để kết quả được đảm bảo hơn”.

Kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa bắt đầu nổi tiếng khi thiết kế khách sạn Caravelle và hoàn thành năm 1959, là cao ốc đầu tiên cao 10 tầng tại Sài Gòn, cũng là cao ốc đầu tiên có hệ thống điều hòa không khí. Lúc bấy giờ, sự nổi tiếng của kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa được giới kiến trúc đánh giá nổi bật chỉ sau kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Ngày 15/12/1973, một Hợp đồng được ký kết giữa ông Nguyễn Đức Súy, Giám đốc Nha Căn cứ hàng không, đại diện chính phủ Việt Nam cộng hòa, với ông Nguyễn Văn Hoa, kiến trúc sư tư vụ được chính phủ công nhận. Điều 1 nêu rõ: “Kiến trúc sư đảm nhận công tác về việc xây cất Nhà ga hàng không Đà Nẵng: Thiết lập đồ án cùng toàn bộ hồ sơ kỹ thuật và trông nom thực hiện công tác kinh phí ước lượng cho việc xây cất nói trên là hai trăm năm chục triệu đồng”.

Đến ngày 3/9/1974, kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa có tờ trình đồ án kiến trúc nhà ga hàng không Đà Nẵng với diện tích tổng cộng 5.250 m². Điểm đáng lưu ý trong đồ án là tính đến đặc điểm của kiến trúc phù hợp với bối cảnh, vật liệu và thời tiết địa phương.

Về phương diện kiến trúc đồ án được trình bày thiên về: “Kiến trúc vững chắc bằng những vật liệu nặng, hợp lý, không cầu kỳ để dễ thực hiện và bảo trì ít tốn kém. Phân phối những cơ cấu giản dị để hành khách không bỡ ngỡ, không mất thời giờ, do dự khi đến cũng như khi đi. Một kiến trúc phù hợp khí hậu và không bắt buộc phải có máy điều hòa không khí trong tình thế hiện tại và rất dễ thực hiện trong tương lai. Bên cạnh đó, dự án áp dụng tối đa vật liệu thượng thặng của địa phương, hay nội địa: như sàn đá mài, vách cẩn đá hoa Đà Nẵng...”.

Nội dung cơ bản của đồ án nêu trên được Sở Kỹ thuật (thuộc Nha căn cứ hàng không) nhận thấy các lý do biện minh, quan niệm kỹ thuật cũng như chi tiết kiến trúc và ước lượng của đồ án là xác đáng, thích ứng và có thể chấp nhận; do đó, Sở Kỹ thuật đề nghị cấp có thẩm quyền chập thuận hồ sơ công tác này.

Như chúng ta đã biết, đến thời điểm đầu năm 1975, với sự kiện giải phóng Đà Nẵng ngày 29/3/1975 và thống nhất đất nước ngày 30/4/1975 đã chấm dứt hoàn toàn việc triển khai đồ án này. Tuy nhiên, qua đây cũng cho thấy một góc nhìn rõ hơn về lịch sử quy hoạch sân bay Đà Nẵng, với mục đích “tăng vẻ mỹ quan và tráng lệ cho thành phố để thu hút du khách” và “dự án này cần được giao cho một kiến trúc sư danh tiếng”, đó là kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa để thực hiện. Câu chuyện về sân bay Đà Nẵng luôn gắn liền với các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, thể hiện tính “đặc trưng hợp lý” của Đà Nẵng về tính chất một “đô thị sân bay”.

VÕ HÀ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét