Phái đoàn Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản đi Tây. Ảnh: Tư liệu
Nỗi ưu tư đó của một đại thần theo ông đến cuối đời và đó cũng là lý do vua Tự Đức giao cho ông bí mật đi mua súng của phương Tây trang bị cho quân đội triều đình, điều mà cho đến nay chưa thấy chính sử triều Nguyễn đề cập đến.
Nằm ngủ cũng mơ về… súng!
Trong Đông hành thi lục, khi đi qua Áo Môn (Macau), Phạm Phú Thứ rất kinh ngạc xen lẫn đau xót rằng, người ta “bán súng và thuốc súng ngay giữa đường, trong chợ”, nguồn cung rất dồi dào và không hề có sự cấm đoán của triều đình.
Đối với một viên đại thần đang mang trong mình nỗi lo về vận mệnh quốc gia trước họa xâm lăng phương Tây, cảnh tượng ấy không chỉ gây ấn tượng mạnh, mà trở thành một nỗi ám ảnh dai dẳng trong lòng cụ Phạm.
Nỗi lo ấy theo ông cả vào giấc ngủ, trong bài thơ Đối liên (quyển 21), Phạm Phú Thứ kể lại một giấc mộng xảy ra “trong một đêm tháng Bảy nồng nực”, khi ông trằn trọc không sao chợp mắt thì chợt mộng thấy mình hóa thành bướm và gặp ông Văn Lương (tức Đại học sĩ Trương Đăng Quế) đang cưỡi sao Cơ chu du hạ giới.
Điều đáng chú ý là trong giấc mộng ấy, người xưa “không có lời nào cả, chỉ ngồi ngay ngắn”, mà sự hiện thân của chính mình mới là điều gây chấn động, vì Văn Lương ngồi: “Bên cạnh có hai cây súng/ Một cây dài tựa thần công/ Một cây súng nữa thì hơi ngắn/ Tay ông xoa xát vào nó/ Đồng sáng loáng lên như mới rèn đúc xong!".
Tỉnh giấc mê, họ Phạm toát mồ hôi lạnh khi nghĩ đến trọng trách của mình với quốc gia, với thực trạng quân đội hiện hành.
Đau đáu cho vận nước và sự tiến bộ của vũ khí cho quân đội bao nhiêu thì Phạm Phú Thứ càng “kinh sợ” và “ngưỡng mộ” trước kỹ nghệ vũ khí phương Tây bấy nhiêu, đây là cảm giác “thèm” rất cụ thể của người biết rõ sự thiếu hụt chí tử về vũ khí của đất nước mình.
Ở Đại Nam lúc bấy giờ, súng đạn bị kiểm soát chặt chẽ, kỹ thuật lạc hậu, việc huấn luyện quân lính nặng về hình thức.
Trái lại, tại phương Tây quân đội đã trở thành một “nghề” có binh chủng, thứ bậc, lương bổng và vũ khí rất hiện đại, khoảng cách ấy hiện ra trước mắt Phạm Phú Thứ như một lời cảnh báo không cần diễn giải.
Đó là lý do đi sứ trời Tây, cụ Phạm thực sự ngưỡng mộ và có phần e sợ khi thấy chiến thuyền, vũ khí phương Tây cực kỳ hiện đại.
Đó là những lúc Phạm Phú Thứ tự đặt mình vào trách nhiệm của những người từng gánh vác vận nước, tự vấn liệu mình đã đủ tỉnh táo và quyết đoán trước thời cuộc hay chưa, khi thực dân phương Tây có nhiều tàu to, súng lớn đang lăm le ngoài bờ cõi!
Thương vụ mua súng bí mật
Những năm cuối triều Tự Đức là giai đoạn Đại Nam của Đại thần Phạm Phú Thứ rơi vào thế phòng thủ bị động trước sức ép ngày càng gia tăng của thực dân Pháp.
Sau các hiệp ước bất bình đẳng, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng, trong khi triều đình vừa thiếu nguồn lực tài chính, vừa tụt hậu sâu sắc về kỹ thuật quân sự.
Súng đạn, tàu chiến - yếu tố quyết định của chiến tranh hiện đại, lại chính là điểm yếu chí tử của quân đội triều Nguyễn.
Trong bối cảnh ấy, bên cạnh những nỗ lực ngoại giao công khai, vua Tự Đức đã phải sử dụng đến những kênh hành động tuyệt mật, trong đó có việc bí mật giao cho Phạm Phú Thứ tìm cách tiếp cận và mua vũ khí phương Tây.
Khác với hình dung lâu nay về một triều đình Huế khép kín và bảo thủ, “bế quan tỏa cảng”, tư liệu từ phía Pháp cho thấy nỗ lực bên trong của triều đình rất chủ động và có tính toán của vua Tự Đức và Phạm Phú Thứ.
Nhận lệnh tuyệt mật của nhà vua, Phạm Phú Thứ tìm đến các lái súng nước ngoài để tìm mua vũ khí cá nhân (súng trường) nhằm trang bị cho binh lính, tích cực chuẩn bị đánh Pháp.
Mới đây, Phạm Phú Cường - chắt nội của cụ Phạm Phú Thứ đang ở Pháp - đã sưu tầm được một tài liệu quan trọng lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải Ngoại (Pháp), một bức thư của viên lái súng người Pháp gửi cho nhà chức trách Pháp cho biết Phạm Phú Thứ đề nghị mua giúp hàng trăm khẩu súng trường, bức thư vô tình tiết lộ một nhiệm vụ tuyệt mật mà vua Tự Đức giao cho cụ Phạm.
Tài liệu cho biết: Khi đang giữ chức Tổng đốc Hải Dương, Phạm Phú Thứ đã tận dụng các mối tiếp xúc với giới chức quân sự Pháp để thăm dò khả năng mua súng.
Ông không tìm mua vũ khí thông thường, mà nhắm đến loại súng trường bắn nhanh, hiện đại bậc nhất châu Âu lúc bấy giờ.
Để cụ thể hóa yêu cầu, ông gửi tận tay một mẫu súng cho người trung gian, vốn không phải thương lái dân sự, mà là một người từng là sĩ quan Pháp.
Trong bức thư đề ngày 11/5/1875, viết từ Hải Phòng gửi về chính quyền Pháp, Thiếu tá Dujardin - chỉ huy cao cấp vùng Bắc Kỳ tường trình rõ: “Trong cuộc gặp mặt của tôi vào tháng Ba vừa rồi, Đại thần Phạm Phú Thứ đã nói một cách sơ bộ với tôi về khẩu súng trường bắn nhanh hiện đại và mong muốn của ông ấy là được sở hữu nó. Mới vừa đây, ông ta đã gửi cho tôi một lá thư nhắc nhở tôi về cuộc nói chuyện về vấn đề này và gửi cho tôi một cây súng mà ông ta muốn có 200 khẩu như vậy”.
Loại súng mà Phạm Phú Thứ yêu cầu không hề tầm thường, theo mô tả của Dujardin, đó là “một chiếc súng mousqueton của kỵ binh Đức, được cải tiến để nạp đạn bằng culasse và được trang bị kính ngắm dạng chassepot”, thậm chí còn đề nghị “có thể trang bị kiếm, lưỡi lê”.
Yêu cầu này cho thấy Phạm Phú Thứ không chỉ hiểu biết về kỹ thuật quân sự hiện đại, mà còn hình dung rõ cách thức tổ chức bộ binh theo mô hình châu Âu.
Tuy nhiên, chính bức thư này cũng phơi bày một sự thật quan trọng: sự thỏa hiệp và tính toán của tư bản phương Tây trong vấn đề cung cấp vũ khí cho An Nam.
Dujardin thẳng thắn thừa nhận: “Tôi trả lời với ông ta rằng khẩu súng mousqueton này không thể tìm thấy ở Sài Gòn và thậm chí sẽ rất khó kiếm được ở Châu Âu. Hơn nữa, việc trang bị một kiếm có lưỡi lê trên súng là một việc rất kỳ công và tốn kém”.
Đằng sau những lý do kỹ thuật và tài chính ấy là một logic chính trị rõ ràng: Phương Tây (nhất là Pháp) không để một quốc gia thuộc địa tiềm năng có được công cụ quân sự đủ mạnh để cản trở quá trình bành trướng, xâm chiếm lãnh thổ của chúng.
Thương vụ mua súng ngay từ đầu đã bị đặt trong thế không cân xứng, khi phía An Nam khát khao vũ khí để tự vệ, còn phía Pháp thì cân nhắc lợi ích thuộc địa lâu dài.
Kết cục của thương vụ này như tư liệu cho thấy, là không thành công.
Đại Nam không nhận được 200 khẩu súng hiện đại như mong muốn và khoảng cách quân sự với Pháp tiếp tục bị nới rộng.
Từ nhiệm vụ tuyệt mật này cho thấy, Phạm Phú Thứ không chỉ là một nhà nho cải cách trên giấy, mà là người đã trực tiếp hành động trong giới hạn cực kỳ chật hẹp của hoàn cảnh lịch sử, nó là minh chứng rõ ràng cho nỗ lực tuyệt vọng của một triều đình Huế đang tìm đường sinh tồn trong cơn sóng dữ của chủ nghĩa thực dân thế kỷ 19, nó minh chứng hùng hồn rằng, triều Nguyễn muốn cải cách quân đội (mua sắm vũ khí, tàu thuyền), chỉ là do họ bị thực dân phương Tây âm mưu bao vây chính trị có hệ thống trên toàn thế giới.
Nhìn lại hành trạng và trước tác của Phạm Phú Thứ, đặc biệt qua Tây hành nhật ký, có thể thấy ông không chỉ là một đại thần mẫn cán mà còn là một trí thức sớm ý thức rõ quy luật sinh tồn của quốc gia trong thế giới hiện đại, ông hiểu rằng sự lạc hậu về quân sự không chỉ là yếu kém nhất thời, mà là mầm họa dẫn tới mất nước.
Bi kịch lớn nhất của Phạm Phú Thứ chính là biết quốc gia lâm nguy, thấy rõ con đường cần đi, nhưng không đủ điều kiện lịch sử để cứu vãn.
Những đề xuất canh tân về tổ chức quân đội, huấn luyện binh lính, chế tạo súng đạn của ông rốt cuộc vẫn không vượt qua được giới hạn của một triều đình bị bao vây cả về chính trị lẫn kinh tế của bọn thực dân phương Tây.
Tuy nhiên, tấm lòng yêu nước, thương dân, hết lòng vì quốc gia, xã tắc của ông luôn được hậu thế vinh danh, vì thế vua Tự Đức vô cùng thương tiếc khi ông qua đời.
Trên tấm bia mộ ông có khắc bài tả nỗi niềm riêng của vua Tự Đức, có đoạn: "Được tin ông mất, trẫm đâu thắng nổi được sự thương tiếc. Nhớ lại, con người đó đã từng trải qua nhiều bước gian truân, đông tây trôi nổi. Tuy thân thể yếu nhưng không dám từ nan. Người này có khả năng ôm mệnh, nhất nhất những việc đã qua đều tìm ra đầu mối, sau nữa có thể lo liệu để người đời noi theo!”.
Đó không chỉ là lời tiễn biệt một bề tôi trung, mà còn là sự thừa nhận muộn màng đối với một tư tưởng canh tân, một lòng mong mỏi có được quân đội hiện đại của Đại thần họ Phạm chưa thành hiện thực.
LƯU ANH RÔ

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét