Khai thác đá ở Ngũ Hành Sơn dưới thời Pháp. Ảnh tư liệu
Mỗi nhát đục, nét chạm không chỉ tạo nên tác phẩm tinh xảo mà còn khắc sâu trong đó hồn quê, bản sắc văn hóa và sức sống bền bỉ của dân tộc.
Nơi đá kể chuyện khai hoang
Khoảng cuối thế kỷ 17, đầu 18, theo dòng “Nam tiến”, cư dân từ Thanh - Nghệ vào lập nghiệp tại vùng Quán Khái (phường Ngũ Hành Sơn). Nhận thấy những khối đá cẩm thạch nhiều màu sắc và dễ tạo hình ở đây, họ đã đục đẽo thành cối giã, bia mộ, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày.
Đến thế kỷ 18, làng Quán Khái chia làm hai: Quán Khái Tây thiên về nông nghiệp, còn Quán Khái Đông giữ nghề đục đá, truyền nối qua nhiều thế hệ. Người được xem ông tổ nghề là Huỳnh Bá Quát, mang nghề từ Thanh Hóa vào, lập làng và dạy dân cách đục đẽo đá.
Bước sang thế kỷ 19, khi triều Nguyễn tuyển thợ ra kinh đô xây dựng cung điện, lăng tẩm, người thợ Huỳnh Bá Triêm của làng Quán Khái đã học được kỹ thuật tinh xảo, chế tác ra bộ ấm trà bằng đá đầu tiên, mở hướng mới cho nghề. Từ đó, những sản phẩm đá không chỉ phục vụ nhu cầu dân dụng mà còn trở thành hàng thủ công mỹ nghệ, gắn bó với nếp sống của cư dân nơi đây.
Ngày nay ở danh thắng Ngũ Hành Sơn còn hiện diện bia “Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật” (1640), “Ngũ Uẩn Sơn Cổ Tích Phật Diệt Lạc” (1641), cùng nhiều văn bia ma nhai khác đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương do những người thợ Quán Khái tạo tác. Điều này đã minh chứng cho sự ra đời của nghề cách nay nhiều thế kỷ.
Khai thác đá dưới thời Pháp thuộc
Từ đầu thế kỷ 19, đá Ngũ Hành Sơn đã được triều đình nhà Nguyễn xem như “quốc bảo”. Vua Gia Long ra chỉ dụ cấm khai thác, coi đá cẩm thạch là sản vật quý hiếm của quốc gia.
Đến ngày 26/2/1822, quan chủ tỉnh Quảng Nam ban hành văn bản xem đá cẩm thạch ở Ngũ Hành Sơn là tài sản quốc gia, lệnh cho dân làng Hóa Khuê “mẫn cán canh giữ”, kẻ nào khai thác trái phép sẽ bị bắt giam. Dưới triều Tự Đức, lệnh này lại được khẳng định thêm, chỉ triều đình mới có quyền khai thác.
Sau khi người Pháp đặt ách bảo hộ ở Trung Kỳ (1888), Tourane trở thành một trong những đô thị chiến lược. Nhu cầu vật liệu xây dựng, đặc biệt là đá, tăng nhanh cùng với quá trình mở đường, xây cầu, nhà ga, công sở.
Khi ấy, chính quyền bảo hộ bắt đầu can thiệp sâu vào quyền quản lý tài nguyên của triều đình Huế. Một đơn thư ngày 25/3/1888 của hương chức làng Hóa Khuê phản ánh việc dân làng Quán Khái Đông tự tiện khai thác đá bán cho mọi người, khiến tấm bia cấm tại ngọn Hỏa Sơn (1893) được dựng lên, khẳng định triều đình “cấm tuyệt đối mọi hoạt động khai thác đá”.
Tuy nhiên, bước sang thế kỷ 20, bối cảnh đô thị hóa cùng nhu cầu xây dựng khiến các lệnh cấm không còn hiệu lực tuyệt đối. Chỉ dụ của Hội đồng Cơ mật Huế ngày 28/4/1919 cho phép hai làng Hóa Khuê Đông và Hóa Khuê Bắc được khai thác trong giới hạn cho phép, song đặc quyền này không được chuyển giao cho bất cứ cá nhân hay làng nào khác. Mọi sự sang nhượng đặc quyền này sẽ không được triều đình công nhận và mọi vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm minh.
Trong công trình Les Montagnes de Marbre de Tourane (1922), học giả Bùi Thanh Vân cho biết, chính quyền thuộc địa cấm mở thêm mỏ mới, chỉ cho phép thu nhặt các tảng đá rải rác trên bề mặt. Đó là một chính sách khôn ngoan trước yêu cầu bảo tồn, dù khiến nhiều công trình ở Tourane đình trệ vì thiếu vật liệu.
Hai năm sau, bác sĩ Albert Sallet, nhà nghiên cứu nhân học người Pháp, bổ sung thông tin rằng: người dân Ngũ Hành Sơn được quyền khai thác trong giới hạn, nhưng sự giám sát thiếu chặt chẽ của chính quyền thuộc địa đã gây thiệt hại lớn cho các ngọn núi, nhất là Hỏa Sơn và Kim Sơn.
Hồn nghề trong lòng đô thị
Sau năm 1975, làng nghề dần hình thành hệ thống sản xuất có tổ chức. Ngày 25/8/2014, nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Hiện nay, có khoảng 385 cơ sở sản xuất hoạt động, tập trung chủ yếu dưới chân Ngũ Hành Sơn, với khoảng 1.250 lao động, phần lớn là thợ địa phương và nghệ nhân lành nghề. Doanh thu hằng năm ước đạt khoảng 370-380 tỷ đồng. Đây là một con số phản ánh tầm quan trọng kinh tế - xã hội của nghề điêu khắc đá trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển du lịch tại Đà Nẵng.
Bên cạnh đó, từ năm 2023, làng nghề phối hợp với các đơn vị liên quan áp dụng công nghệ blockchain 4.0 vào sản phẩm đá mỹ nghệ, trở thành một trong những làng nghề đầu tiên tại Việt Nam gắn chip định danh cho các tác phẩm độc bản, giúp bảo hộ quyền tác giả và nâng cao giá trị thương hiệu.
Gần 4 thế kỷ trôi qua, việc giữ gìn kỹ nghệ truyền thống, kết hợp hiện đại hóa sản xuất và phát triển du lịch trải nghiệm đang giúp nghề đá Non Nước không chỉ tồn tại mà còn phát triển bền vững trong đời sống kinh tế - văn hóa của thành phố.
VŨ HOÀI AN

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét