1 thg 1, 2026

Trương Bá Huy - Khí tiết giữa phong ba

Từ phong trào kháng thuế năm 1908 đến khởi nghĩa Duy tân 1916, cuộc đời Trương Bá Huy là bản hùng ca về lòng yêu nước và khí tiết của người Quảng. Ông sống trọn một đời vì dân, vì nước, và ra đi nơi ngục tù, để lại tấm gương trung liệt sáng mãi với thời gian.

Những người tham gia phong trào kháng thuế bị bắt năm 1908. Ảnh tư liệu

Từ cậu tú Phước Ấm đến ngọn lửa nghĩa khí

Trương Bá Huy, hiệu Phước Âm, sinh vào năm nào không rõ, người làng Phước Ấm, tổng Phú Mỹ Trung, huyện Lễ Dương, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Thăng An).

Năm 1906, ông đi thi và đỗ tú tài. Vào những năm đầu thế kỷ 20, đời sống người dân hết sức cơ cực, bởi sau khi chiếm nước ta, thực dân Pháp ra sức vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân. Chúng còn đưa ra nhiều loại thuế mới, chủ yếu đánh vào người nông dân

Nhà báo E. Jolly trong bài “Những sự việc xảy ra ở Trung Kỳ” đăng trên báo Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) số 3934 ra tháng 4/1908 viết: “Mặc dù đã có lời hứa là thuế sẽ được giữ nguyên ở mức đã quy định nhưng đến năm sau thì thuế lại tăng và những năm kế tiếp lại cứ tăng thêm đều đều”.

Trước sự chèn ép và bóc lột của chính quyền thực dân cũng như quan lại triều đình, nhân dân ngày càng phản ứng gay gắt. Tại Thăng Bình, viên Tri phủ Trần Văn Thống - Đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ năm Tân Sửu (1901), có những việc làm đi ngược lại quyền lợi của dân nên bị nhân dân oán ghét.

Sau đó, Lê Bá Đằng, nguyên trước làm Tri phủ Điện Bàn, được điều về thay, nhưng thói tham nhũng càng trầm trọng. Dân oán sôi sục, và từ đây, ngọn lửa xin xâu chống thuế bùng lên, mở đầu cho một phong trào lan khắp Quảng Nam rồi Trung Kỳ mà Trương Bá Huy là một trong những lãnh đạo quan trọng.

Khí phách trong phong trào kháng thuế

Ngày 26/3/1908, dưới sự chỉ huy của Hương Quần, Hương Cảnh và Trương Bá Huy, hàng ngàn người dân Thăng Bình kéo đến phủ đường yêu cầu Tri phủ Lê Bá Đằng cùng đi xin xâu. Quan phủ bỏ trốn, lính nổ súng làm nhiều người bị thương, những lãnh đạo phong trào bị bắt.

Phong trào ngày càng lan rộng, khiến chính quyền thực dân lo sợ và đàn áp khốc liệt. Ngày 9/6/1908, một phiên tòa do Hồ Đắc Trung - Tổng đốc Quảng Nam thành lập tại làng La Qua, phủ Điện Bàn để xử Trương Bá Huy và những người có liên quan.

Ngày 16/8/1908, Khâm sứ Pháp tại Huế duyệt y án: “… Trương Huy (tức Trương Bá Huy), Lê Dư càn quấy diễn thuyết, mỗi nơi chỉ trích, phỉ báng quan lại… Xét bọn này: hội thương thì nhiều người ký vào hợp cổ, diễn thuyết thì nói càn quốc sự, là có can phạm phép nước… Lê Bá Thuần, Nguyễn Đình Tán, Nguyễn Thành và Trương Bá Huy, xin đều xử trượng 100, đày 3.000 dặm, phát giao biệt xứ phối dịch…”.

Ngày 10/9/1908, Trương Bá Huy cùng các chí sĩ khác đều mang gông xiềng bị đưa lên một toa xe lửa bít bùng chở từ nhà lao Hội An ra Đà Nẵng để xuống tàu thủy vào Sài Gòn rồi đi đày Côn Đảo. Trong Thi tù tùng thoại, Huỳnh Thúc Kháng cho biết: “Lúc ấy bị phát đi Côn Lôn, tôi cùng mấy ông Cử nhân Phan Thúc Duyện, Ấm sanh Nguyễn Thành (Tiểu La), Cử nhân Lê Bá Trinh, Tú tài Trương Bá Huy, Dương Phụ Thạch cùng Hương Cảnh và Hương Quần”.

Ở Côn Đảo, cuộc sống tù đày khổ cực: ăn cơm gạo đỏ với cá khô, làm việc nặng nhọc trong sở gạch, sở rẫy, đập đá, dọn tàu. Dù bị đày đọa, Trương Bá Huy vẫn giữ chí khí của người yêu nước. Với ông, những năm tháng ấy là thử thách của lòng son “thân tù mà chí chẳng tù”.

Theo ngọn cờ Duy Tân, giữ trọn tiết tháo

Tháng Chạp năm Quý Sửu (1914), sau nhiều năm giam cầm, Trương Bá Huy cùng Trần Cao Vân, Lê Ngung, Lê Bá Trinh, Nguyễn Hổ Khê… được ân xá. Ngay khi trở về, ông lại dấn thân vào phong trào Duy tân, cùng Thái Phiên và Trần Cao Vân bàn kế phục quốc.

Ngày 14/4/1916, cuộc hội kiến giữa vua Duy Tân, Trần Cao Vân và Thái Phiên diễn ra tại hồ Tịnh Tâm (Huế), quyết định phát động khởi nghĩa chiếm ba tỉnh Thừa Thiên - Quảng Nam - Quảng Ngãi làm căn cứ. Ở Quảng Nam, nhóm lãnh đạo gồm Lâm Nhĩ, Lê Tường, Hồ Cẩm Vinh, Trương Bá Huy, Phan Thành Tài…

Do bị mật thám phát giác, cuộc khởi nghĩa đêm 3/5/1916 thất bại. Vua Duy Tân bị đày, nhiều chí sĩ bị xử tử. Huỳnh Thúc Kháng trong Khởi nghĩa Duy Tân 1916 viết: “Tấn kịch này, các tôi cả triều làm án vua (án trong có câu ‘vọng thinh sàm ngôn, khuynh nguy xã tắc…’). Vua bị đày, mấy người tử hình. Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Khánh Kiểm (người này Hoa kiều, có cho dân mượn súng bắn ở Tam Kỳ), Nguyễn Sụy đều tử hình, tú Ngung tự tử, còn thì giam và đày rất đông, trong đó có người tên tuổi như tú tài Phạm Cao Chẩm đày ra Côn Lôn lần thứ hai chết ngoài ấy, Lê Cơ (lý trưởng Phú Lâm, tay thực hành có tiếng ở Quảng Nam đã bị án cuộc cự sưu năm 1908, nay làm một keo nữa), Lê Tiêm, cậu Khôi bị đày chết ở Lao Bảo, Lê Vĩnh Huy (cực đảng Tiểu La) chết ở nhà giam tỉnh, tú tài Trương Bá Huy bị kết án mấy năm…”.

Trương Bá Huy bị đày ra Lao Bảo, tiếp tục sống kiên trung trong cảnh lao dịch khổ sai. Năm 1918, khi tù nhân nổi dậy phản kháng sự đàn áp của cai ngục, ông cùng Lê Cơ, Dương Thưởng, Lê Trọng Đoàn… bị giết hại.

Cuộc đời Phước Âm Trương Bá Huy từ cậu tú nghèo yêu chữ nghĩa đến chí sĩ kiên trung giữa phong ba là minh chứng cho tinh thần trung hiếu, nghĩa khí của người Quảng. Cuộc đời ông là bản anh hùng ca lặng lẽ, thắp sáng một giai đoạn bi tráng của lịch sử dân tộc.

HOÀI NAM

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét