23 thg 5, 2020

Happy Garden - điểm đến lý tưởng ở Bình Phước

Dù mới đi vào hoạt động nhưng Happy Garden đã trở thành điểm đến lý tưởng của khu du lịch sinh thái, thu hút đông du khách trong và ngoài tỉnh.

Toàn cảnh khu du lịch sinh thái Happy Garden, khu phố 5, phường Tân Đồng, TP. Đồng Xoài

Đến với khu du lịch sinh thái Happy Garden, du khách sẽ được trải nghiệm nhiều điều thú vị. Với hệ sinh thái phong phú, đa dạng, thiên nhiên trong lành, giúp mọi người quên đi những mệt mỏi, ưu phiền của cuộc sống thường ngày.

20 thg 5, 2020

Một số địa danh ở vùng Hạ Long

Hạ Long là một kỳ quan của Việt Nam và cả thế giới. Hạ Long nổi tiếng nhờ có nhiều vịnh, sông, núi, hang động và đảo đẹp.

Hai vịnh nổi tiếng nhất là Hạ Long và Bái Tử Long.


Vịnh Hạ Long

Hạ Long là vịnh ở hướng đông nam tỉnh Quảng Ninh, diện tích 1. 553 km2, gồm 1.969 hòn đảo, trong đó có 989 hòn đã có tên và 980 hòn chưa có tên, trong đó 40 đảo đã có người ở, có nhiều núi và hang động đẹp, là khu du lịch nổi tiếng, được UNESCO công nhận là Di sản tự nhiên thế giới ngày 14-12-1994. Vào thời tiền sử, đảo đã có người ở. Ngày 7-7-2007, vịnh đã được đề cử vào danh sách bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới.

Một số địa danh ở Thừa Thiên - Huế

Ở vùng Thừa Thiên Huế, địa danh có nhiều biến dạng và nguồn gốc khá phức tạp. 
Trước hết là những địa danh có nhiều biến dạng.
Chợ Đông Ba

Đông Ba là chợ lớn nhất ở thành phố Huế, toạ lạc tại phường Phú Hoà. Chợ cũ xây năm 1887, chợ mới xây năm 1899 bên ngoài cửa Chính Đông (Đông Hoa). Đông Ba có dạng gốc là Đông Hoa, đến năm 1842 đổi thành Đông Ba để khỏi phạm huý vì mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, người ở Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

Một số địa danh ở Lâm Đồng

Đẻo Bảo Lộc

Tên núi, đèo:


Bảo Lộc là đèo nằm trên quốc lộ 20, nằm ở ranh giới thành phố Bảo Lộc và huyện Đạ Hoai, tỉnh Lâm Đồng, dài 10km, ở độ cao 930m. Còn gọi là đèo B’Lao.

Bảo Lộc còn là thành phố của tỉnh Lâm Đồng, diện tích 232,4
km2, dân số 138.000 người (2006), gồm 6 phường. B’Lao chuyển thành Bảo Lộc ngày 19-2-1959.

Bảo Lộc có hai cách lý giải: 1.Là địa danh dùng để Việt hoá một tên gốc là B’Lao hay Cơ Ho Kuèl Kơh Vơlau, nghĩa là “đèo Vơlau” theo chủ trương của chính quyền thời bấy giờ (1959). 2. Tên một loài hoa đẹp có nhiều trong vùng, theo tiếng địa phương.

Một số địa danh ở Đắk Nông

Thác Dray Sáp

Tên các sông, suối, hồ :

Đray Sap là thác nước ở xã Nam Hà, huyện Krông Knô, tỉnh Đắc Nông. Cũng gọi là thác Chồng, đối ứng với thác Đray Nu (thác Vợ) ở tỉnh Đắc Lắc. Đray Sap gốc Ê Đê, có nghĩa là “thác khói”, vì thác dài gần 100m, bọt nước tung mù mịt như khói phủ.

Một số địa danh ở Đắk Lắk

Thành phố Buôn Ma Thuột

Tên núi, đèo:

Núi Chư Kuên ở tỉnh Đắc Lắc. Chư Kuên gốc Ê Đê, nghĩa là “núi vượn”.

Chư Đrao là núi ở tỉnh Đắc Lắc. Chư Đrao gốc Ê Đê Chư Krao, nghĩa là “núi chim sáo”.

Ở tỉnh Đắc Lắc có núi Chư M’Gar. Đây cũng là tên huyện của tỉnh, diện tích 819,8 km
2, dân số 151.100 người (2006), gồm 2 thị trấn Ea Pôk, Quảng Phú và 14 xã. Chư M’gar gốc Ê Đê, Mơ Nông, nghĩa là “núi trọc, không có cây”.

Chư Mnga là núi ở tỉnh Đắc Lắc. Chư Mnga gốc Ê Đê, là “núi hoa”.

"Sâu muồng" - món ăn đặc trưng của người Ê đê

Đối với người Ê đê, bên cạnh các món ăn truyền thống như: cà đắng, jiăm tang, lá mì xào… thì “sâu muồng" được xem là một món ăn đặc trưng nhất từ thiên nhiên. Mùa sâu muồng thường bắt đầu từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4 dương lịch hàng năm. Khi thời tiết nắng nóng và sắp chuyển sang mùa mưa là thời điểm mà sâu muồng sinh sôi, nảy nở.

Sâu muồng là loại sâu sống ở cây muồng, loại cây thường được người dân trồng xen trong vườn cà phê, trồng ở bìa rẫy để tạo bóng mát, chắn gió và vừa làm trụ cho cây hồ tiêu. Những cây muồng lá sum suê, lá non là nguồn thức ăn khoái khẩu của sâu muồng. Sâu muồng nhỏ, dài khoảng 3-4 cm, lưng có màu nâu vàng, hai bên mình có sọc màu nâu thẫm, da trơn, di chuyển bằng cách cong thân mình lại về phía trước. Khi trưởng thành, sâu bắt đầu rời bỏ ngọn cây, trở về cùng thân cây muồng để kéo kén, thành nhộng. 

Sâu muồng nhỏ, lưng có màu nâu vàng, hai bên mình có sọc màu nâu thẫm, da trơn được người Ê đê bắt về chế biến món ăn 

Độc đáo điệu múa sư tử mèo của người Tày, Nùng

Trải qua quá trình sinh sống, phát triển, đồng bào dân tộc Tày, Nùng ở Ðắk Nông vẫn còn gìn giữ, lưu truyền những nét văn hóa đặc trưng, mang đậm bản sắc dân tộc; trong đó, phải kể đến điệu múa sư tử mèo.

Ðây là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống được biểu diễn trong các dịp lễ, tết của người Tày, Nùng. Theo quan niệm của họ, sư tử là tượng trưng cho sự thịnh vượng, sư tử đi đến đâu là mang theo hạnh phúc, no đủ và niềm vui đến đó. Người Tày, Nùng cho rằng, múa sư tử mèo để xua đi những điều xấu, do vậy khuôn mặt mèo càng dữ tợn càng tốt, điệu võ càng mạnh mẽ càng hấp dẫn. Nếu thiếu điệu múa sư tử mèo là thiếu đi một phần linh hồn của ngày hội và màu sắc rực rỡ của ngày xuân. 

Múa sư tử mèo đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của người Tày, Nùng mỗi dịp lễ, tết 

Cây mây "quấn quýt" bon làng, "gắn kết" cộng đồng

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, mây chiếm một vị trí quan trọng trong sinh hoạt, đời sống và ẩm thực. Từ bao đời nay, dù sướng khổ, thăng trầm, dây mây vẫn luôn "quấn quýt" với bon làng, "gắn kết" cộng đồng.

Mây là một loại cây rừng mọc thành bụi, có dây dài đến hàng chục mét. Đồng bào Ê đê, M’nông thường dùng thân mây làm dây buộc các cấu kiện để cất nhà ở, dùng lá mây để lợp mái nhà. Khi lợp, các lá mây rừng được nối kết với nhau bằng dây mây chẻ nhỏ, chuốt nhẵn để tăng độ dẻo dai. Những ngôi nhà lợp bằng lá mây có độ bền còn cao hơn so với cỏ tranh. Có nhiều căn nhà lợp lá mây chịu được mưa gió, nắng nóng hàng chục năm mới phải lợp lại. 

Canh thụt là sự hòa quyện đặc biệt của các loại nguyên liệu, có vị đắng, cay, ngọt, bùi béo khiến ai ăn một lần là nhớ mãi. Ảnh tư liệu 

Tục đòi nợ đậm tính nhân văn của người M’nông

Người M’nông xưa có nhiều tập tục mang đậm tính nhân văn, trong đó có tục đòi nợ. Khi lâm vào tình cảnh khó khăn, người nghèo khó phải đi vay mượn của anh em họ hàng hay bạn bè trong bon. Khi vay, người vay thường hứa với chủ nợ trả bằng heo nếu thời gian ngắn, hoặc trả bằng trâu nếu lâu năm; nếu vay mượn nhiều, thời gian dài thì có thể phải trả bằng chiêng, ché.

Đối với những món vay ít giá trị thì việc trả nợ thường đơn giản. Tuy nhiên, nếu món vay có giá trị lớn, đến thời gian lấy nợ, người cho mượn có cách đòi nợ rất đặc biệt, đó là lễ đòi nợ. Theo đó, đến ngày hẹn trả nợ, vợ chồng chủ nợ sẽ bàn bạc làm lễ đòi nợ. Trước khi làm lễ, chủ nhà mời già làng (có khi là thầy cúng) và anh em dòng họ đến nhà mình để dự lễ và chứng kiến. 

Người M’nông có nhiều phong tục đầy tính nhân văn