Từ vỏ hàu, sò, hến, san hô… đến vôi trắng
Không biết tự bao giờ, người dân Hội An đã biết tận dụng vỏ hàu, sò, hến, san hô… được thu gom từ những vựa hải sản hoặc trôi dạt vào vùng cửa sông, ven biển, để làm nguyên liệu nung vôi.
Để dựng lò nung vôi, người xưa chọn nền đất chắc chắn, dùng gạch và đất sét trộn nhão làm chất kết dính để xây. Lò có dạng hình tròn, tùy theo mỗi địa phương mà kích thước lò to nhỏ khác nhau. Thông thường lò có đường kính gần 3m, độ cao bên ngoài 25cm, ở giữa là bếp lò cao khoảng 15cm, tạo thành hình lòng chảo. Bếp lò xây theo kiểu truyền thống dạng kiềng ba chân, một số lò người ta dùng dây thép đan thành nón lưới úp lên miệng lò. Bên trong có một hoặc hai đường ống nối với bễ.
Để nung vôi, người ta đặt trên bếp một lớp than khô rồi châm lửa, dùng tay thụt bễ đưa gió vào lò, khi lửa đỏ thì lần lượt đổ nguyên liệu vào, sau hơn 1 giờ thì vôi chín. Từ những mẻ vôi ấy, người ta chế ra loại vữa đặc biệt bằng cách pha vôi với nhựa của cây bời lời, dây tơ hồng, lưỡi long... là những loại cây mọc hoang dã, sinh sản tự nhiên, xây dựng nên những công trình kiến trúc dân dụng và tín ngưỡng tôn giáo đứng vững qua hàng trăm năm mưa gió.
Sau này, vôi trộn mật mía xây nhà là phổ biến.
Lửa đỏ và khói trắng một thời vang bóng
Nghề nung vôi cực nhọc, người thợ phải chịu cái nóng bỏng rát từ hơi lửa và bụi khói cay xè. Mỗi mẻ vôi là một trận “đối sức” với lửa và khói, đòi hỏi sự kiên nhẫn và cả kinh nghiệm của người thợ để nhận biết độ chín của nguyên liệu.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Quảng Trần Văn An cho biết, trước đây dọc bờ sông Chợ Củi đoạn chảy qua Thanh Hà là những lò vôi ngày đêm nhả những làn khói trắng lên bầu trời tạo thành một khung cảnh ấn tượng một thời. Những lò vôi này cung cấp nguyên liệu tạo nên vữa vôi tam hợp làm nhà, làm mồ mả; tôi thành vôi để ăn trầu, quét vôi…
Ngày nay nghề này không còn nhưng dấu vết của nó vẫn được lưu lại trong nhiều câu ca dao, tục ngữ: “Yêu nhau cho thịt cho thà/ Ghét nhau đưa đến Thanh Hà nung vôi”; hay “Gió Nam thổi xuống lò vôi/ Lòng ta thương bạn bạn thôi sao đành”.
Có thời, ghe bầu từ Hội An chở vôi đi khắp vùng, ra Huế, vào Bình Định, Phú Yên thậm chí xa hơn. Vôi không chỉ phục vụ xây dựng mà còn có nhiều loại dùng để quét tường, ăn trầu, tẩy rửa, khử chua đất ruộng.
Góp phần định hình diện mạo đô thị cổ Hội An
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, những lò vôi ở Hội An đã từng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình diện mạo kiến trúc của đô thị thương cảng quốc tế Hội An trong suốt các thế kỷ 16 đến 19.
Thụt bễ nung vôi ở Thanh Hà khoảng năm 1940. Ảnh: Jean-Yves Claeys
Vữa tam hợp làm từ vôi thủ công tại địa phương đã tạo nên những bức tường dày, chắc, có độ “thở” phù hợp với khí hậu nắng nóng, mưa nhiều, lũ lụt thường xuyên của dải đất miền Trung. Lớp vôi tôi được dùng để quét tường, chống ẩm, tạo màu vàng nâu đặc trưng của các ngôi nhà cổ.
Nhiều thợ nề xưa tin rằng “vôi xứ Quảng dẻo và khô chậm”, giúp công trình bền lâu và giữ được màu thời gian.
Có thể nói, di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An không chỉ là thành quả của giao thương mà còn là kết tinh của nhiều ngành nghề thủ công địa phương như mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà... Trong đó, nghề nung vôi chính là mắt xích quan trọng để tạo nên bản sắc kiến trúc đặc trưng, khiến Hội An trở nên khác biệt giữa vô vàn đô thị cổ của châu Á.
Ngày nay, vào khoảng 4 giờ chiều, khi ánh mặt trời bắt đầu dịu nhẹ, hoàng hôn dần dần buông xuống, bước qua những ngôi nhà cổ trên phố Trần Phú, Nguyễn Thái Học hay dọc sông Hoài, du khách vẫn thấy những mảng tường vôi vàng vọt nhuốm màu thời gian, trong đó có một phần công sức của những người thợ vôi ngày trước.
Bảo tồn nghề truyền thống xưa
Có thể thấy, nghề nung vôi truyền thống ở Hội An không chỉ là một kỹ thuật xây dựng mà còn là một phần của ký ức đô thị, gắn liền với quá trình hình thành kiến trúc cổ.
Hiện nay, việc bảo tồn nghề này có thể thực hiện theo hướng “bảo tồn phi vật thể gắn với trình diễn - giáo dục - du lịch”, chứ không phải sản xuất thực tế.
Với Hội An, đô thị di sản kiến trúc vẫn còn nguyên vẹn thì việc “phục dựng” nghề nung vôi truyền thống phục vụ khách tham quan không chỉ là tôn vinh quá khứ mà còn là cách kể lại câu chuyện vật liệu đã làm nên linh hồn đô thị cổ.
Bà Đinh Thị Trang - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng cho rằng, cần phục dựng tại Thanh Hà mô hình một lò vôi truyền thống để giới thiệu nghề nung vôi xưa, đây sẽ là điểm nhấn trong tuyến du lịch làng nghề ở Hội An. Để thực hiện việc này thì cần sớm thu thập tư liệu, hiện vật, cũng như phỏng vấn những người thợ lò xưa trước khi những chứng nhân cuối cùng của nghề rời xa.
Khói và lửa lò vôi xưa tuy không còn tỏa ra ở những ngôi làng ven sông, nhưng vẫn âm ỉ trong lòng người dân phố Hội, như biểu tượng của sự bền bỉ, cần cù và sáng tạo. Viết lại câu chuyện “nghề nung vôi xưa” chính là giữ lại phần ký ức quan trọng của vùng đất di sản, nơi mỗi lớp vữa, mỗi viên gạch đều mang theo hồn đất, hồn người.
VŨ HOÀI AN



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét