Nhã nhạc là loại hình âm nhạc cung đình nên lời lẽ tao nhã, điệu thức cao sang, quý phái. Nó biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại. Vì vậy, Nhã nhạc được các triều đại quân chủ Việt Nam rất coi trọng. Theo sử sách, Nhã nhạc Việt Nam có từ thời Lý (1010-1225) nhưng phát triển mạnh và bài bản nhất là vào thời nhà Nguyễn (1802 - 1945). Nhã nhạc thời Nguyễn thường được gọi là Nhã nhạc cung đình Huế vì triều đại này đóng đô ở Huế suốt gần 150 năm.
9 thg 2, 2013
Nhã nhạc cung đình Huế
Nhã nhạc cung đình Huế là loại hình âm nhạc chính thống, được xem là quốc nhạc của nhà Nguyễn (1802-1945). Nhã nhạc thường được dùng để biểu diễn trong các ngày lễ trọng của Hoàng cung như: Tế Nam Giao, Tế Xã Tắc, mừng đăng quang, mừng thọ vua, tiếp đón các sứ thần… Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Huế - Diễm lệ những công trình
Cố đô Huế không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp của những tòa cung điện nguy nga tráng lệ mà còn ở nét diễm lệ của những công trình lăng tẩm, đình đền, chùa chiền… cổ kính nằm hòa mình duyên dáng trong một vùng cảnh quan thiên nhiên thơ mộng.
Nói đến các công trình kiến trúc cổ của Huế không thể không nhắc đến hệ thống lăng tẩm, nơi yên nghỉ của các vị vua triều Nguyễn. Mỗi công trình là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ bởi chúng không chỉ thể hiện khả năng tài hoa của người thợ xứ Huế mà còn phản ánh cả cá tính mỗi vị vua lúc sinh thời.
Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu từ khi hoàng đế Gia Long lên ngôi vào năm 1802 và kết thúc vào năm 1945 khi hoàng đế Bảo Đại tuyên bố thoái vị, tổng cộng là 143 năm với 13 đời vua. Hiện nay, ở Huế vẫn còn lại 7 khu lăng tẩm của 7 vị vua triều Nguyễn, trong đó đáng chú ý như lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức...
Nằm cách trung tâm thành phố Huế chừng 16km về phía Tây Nam, giữa một vùng quần sơn gồm 42 ngọn núi lớn nhỏ thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế có lăng Gia Long (còn gọi là Thiên Thọ Lăng). Đây là nơi yên nghỉ của vua Gia Long (1762 - 1820), vị vua đầu tiên trong số 13 đời vua nhà Nguyễn.
Nói đến các công trình kiến trúc cổ của Huế không thể không nhắc đến hệ thống lăng tẩm, nơi yên nghỉ của các vị vua triều Nguyễn. Mỗi công trình là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ bởi chúng không chỉ thể hiện khả năng tài hoa của người thợ xứ Huế mà còn phản ánh cả cá tính mỗi vị vua lúc sinh thời.
Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu từ khi hoàng đế Gia Long lên ngôi vào năm 1802 và kết thúc vào năm 1945 khi hoàng đế Bảo Đại tuyên bố thoái vị, tổng cộng là 143 năm với 13 đời vua. Hiện nay, ở Huế vẫn còn lại 7 khu lăng tẩm của 7 vị vua triều Nguyễn, trong đó đáng chú ý như lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức...
Nằm cách trung tâm thành phố Huế chừng 16km về phía Tây Nam, giữa một vùng quần sơn gồm 42 ngọn núi lớn nhỏ thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế có lăng Gia Long (còn gọi là Thiên Thọ Lăng). Đây là nơi yên nghỉ của vua Gia Long (1762 - 1820), vị vua đầu tiên trong số 13 đời vua nhà Nguyễn.
Hội đền Hai Bà Trưng
Xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội là quê hương của Hai Bà Trưng (hai nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị), cũng là nơi Hai Bà xưng vương, lập đô sau khi đánh tan giặc ngoại xâm những năm đầu công nguyên (40 - 43). Để tưởng nhớ công ơn Hai Bà, hàng năm, tại đây, vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch, người dân địa phương lại tổ chức lễ hội.
Lễ hội mở đầu bằng đám rước kiệu vua Bà, voi chiến cùng lễ vật từ đình Hạ Lôi về Khu di tích đền thờ Hai Bà Trưng. Đám rước diễn ra tưng bừng, náo nhiệt, đi trong cờ quạt rực rỡ, trong tiếng trống, thanh la và phường bát âm réo rắt trúc tơ. Những bô lão đầy uy tín, đức độ của làng được chọn ra đánh trống, chiêng ngày hội. Hai cỗ kiệu rước Hai Bà do những thiếu nữ thanh tân, trẻ đẹp, khỏe mạnh, tháo vát của làng khiêng. Hai bên đường, người dân địa phương bày bàn thờ lễ vật trước cửa nhà, làm lễ vọng đón đoàn rước đi qua. Ai nấy đều thành kính, tưởng nhớ tới công ơn của Hai Bà đã phất cờ khởi nghĩa, giành độc lập cho dân tộc. Phần lễ kết thúc, phần hội diễn ra với những điệu múa dân gian, đấu vật, những trò chơi truyền thống của dân tộc như: đánh đu, đập niêu đất…
Lễ hội mở đầu bằng đám rước kiệu vua Bà, voi chiến cùng lễ vật từ đình Hạ Lôi về Khu di tích đền thờ Hai Bà Trưng. Đám rước diễn ra tưng bừng, náo nhiệt, đi trong cờ quạt rực rỡ, trong tiếng trống, thanh la và phường bát âm réo rắt trúc tơ. Những bô lão đầy uy tín, đức độ của làng được chọn ra đánh trống, chiêng ngày hội. Hai cỗ kiệu rước Hai Bà do những thiếu nữ thanh tân, trẻ đẹp, khỏe mạnh, tháo vát của làng khiêng. Hai bên đường, người dân địa phương bày bàn thờ lễ vật trước cửa nhà, làm lễ vọng đón đoàn rước đi qua. Ai nấy đều thành kính, tưởng nhớ tới công ơn của Hai Bà đã phất cờ khởi nghĩa, giành độc lập cho dân tộc. Phần lễ kết thúc, phần hội diễn ra với những điệu múa dân gian, đấu vật, những trò chơi truyền thống của dân tộc như: đánh đu, đập niêu đất…
Đoàn rước hội đền Hai Bà Trưng.
Du ngoạn Ngũ Hành Sơn
Cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng bảy cây số, Ngũ Hành Sơn là chốn thiền môn hoang sơ, tĩnh lặng, thu hút du khách đến khám phá, chiêm nghiệm, thoát ra khỏi cuộc sống ồn ào của phố thị.
Ngũ Hành Sơn là năm ngọn núi vươn ra như năm ngón tay có tên theo ngũ hành: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn. Những ngọn núi ấy thành tên từ thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đặt. Có nhiều truyền thuyết về sự hình thành Ngũ Hành Sơn, trong đó có chuyện kể rằng: Ngày xưa, nơi đây là vùng biển hoang vu, chỉ có một ông già sống đơn độc trong túp lều tranh. Một hôm, trời đang sáng bỗng nhiên tối sầm, giông bão nổi lên, một con giao long rất lớn xuất hiện vùng vẫy trên bãi cát và một quả trứng khổng lồ. Lát sau, một con rùa vàng xuất hiện, tự xưng là thần Kim Quy, đào cát vùi quả trứng xuống và giao cho ông già nhiệm vụ bảo vệ giọt máu của Long Quân.
Quả trứng càng ngày càng lớn, nhô lên cao, chiếm cả vùng đất rộng lớn. Vỏ trứng ánh lên đủ màu sắc xanh, đỏ, trắng, vàng, tím, lấp lánh như hòn gạch khổng lồ. Hôm khác, ông lão vừa chợp mắt thì nghe có tiếng lửa cháy, trong lòng trứng xuất hiện một cái hang rộng rãi, mát mẻ. Ông cầu cứu móng rùa- vật mà thần Kim Quy đã giao lại cho ông lúc ra đi rồi đặt lưng xuống ngủ thiếp luôn. Ông không biết đang xảy ra phép lạ: một cô gái xinh xắn bước ra từ trong trứng và nơi ông nằm là một trong năm hòn cẩm thạch vừa được hình thành từ năm mảnh vỏ trứng, sau thành năm 5 ngọn núi Ngũ Hành Sơn như bây giờ.
Đường lên Ngũ Hành Sơn đi giữa những vách đá đầy màu sắc.
Huế di sản văn hóa thế giới
Trong quần thể những công trình kiến trúc của Huế được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa thế giới, cụm kinh thành Huế được đánh giá là một quần thể kiến trúc đồ sộ và có giá trị hơn cả.
Nghiêng mình bên dòng Hương Giang xanh hiền hòa của mền Trung ruột thịt, thành phố mà chúng ta đang nói đến mang một cái tên đơn âm nôm na như bao làng mạc cổ Việt Nam: Huế. Trải bao thăng trầm lịch sử, tên những làng mạc cổ dần dần chìm khuất, nhưng Huế vẫn giữ nguyên cái tên “cúng cơm” ban đầu của mình để đi vào thế giới hiện đại.
Thành phố không lớn, nằm trên một dải đất hẹp, nắng mưa khắc nghiệt, ít được thiên nhiên ưu đãi nhất miền Trung, thế nhưng nơi đây từ thời Chúa Nguyễn đã được chọn làm thủ phủ xứ “Đàng Trong”. Từ năm 1635 – 1687, Chúa Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long; từ 1688 đến 1774 Chúa Nguyễn Phúc Thái và Nguyễn Phúc Khoát dời phủ về Phú Xuân. Đến thời Tây Sơn, Huế vẫn được vua Quang Trung chọn làm kinh đô.
Nghiêng mình bên dòng Hương Giang xanh hiền hòa của mền Trung ruột thịt, thành phố mà chúng ta đang nói đến mang một cái tên đơn âm nôm na như bao làng mạc cổ Việt Nam: Huế. Trải bao thăng trầm lịch sử, tên những làng mạc cổ dần dần chìm khuất, nhưng Huế vẫn giữ nguyên cái tên “cúng cơm” ban đầu của mình để đi vào thế giới hiện đại.
Thành phố không lớn, nằm trên một dải đất hẹp, nắng mưa khắc nghiệt, ít được thiên nhiên ưu đãi nhất miền Trung, thế nhưng nơi đây từ thời Chúa Nguyễn đã được chọn làm thủ phủ xứ “Đàng Trong”. Từ năm 1635 – 1687, Chúa Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long; từ 1688 đến 1774 Chúa Nguyễn Phúc Thái và Nguyễn Phúc Khoát dời phủ về Phú Xuân. Đến thời Tây Sơn, Huế vẫn được vua Quang Trung chọn làm kinh đô.
Toàn cảnh quần thể kiến trúc kinh thành Huế nhìn từ trên cao. Ảnh: Tư liệu của Mạnh Thường.
8 thg 2, 2013
Độc đáo Nhà Trăm Cột
Ở tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, thuộc xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, Nhà Trăm Cột là công trình kiến trúc điêu khắc cổ mang phong cách “nhà rường” Huế điển hình nằm lọt giữa vùng quê Nam Bộ đã có từ hơn 100 năm nay. Công trình đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch - PV) xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia năm 1997...
Ngôi nhà này được khởi công vào năm 1901, đến năm 1903 thì hoàn thành và năm 1904 thì xong phần chạm khắc trang trí do nhóm 15 thợ từ làng Mỹ Xuyên - làng chạm khắc mộc nổi tiếng của Thừa Thiên - Huế thực hiện bằng chất liệu chủ yếu là các loại gỗ quý như cẩm lai, mun... Với diện tích 882m2, Nhà Trăm Cột tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện quay về hướng Tây Bắc. Nhà làm bằng các loại gỗ cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật; mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch Tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ “Quốc”, 3 gian, 2 chái.
Ngôi nhà này được khởi công vào năm 1901, đến năm 1903 thì hoàn thành và năm 1904 thì xong phần chạm khắc trang trí do nhóm 15 thợ từ làng Mỹ Xuyên - làng chạm khắc mộc nổi tiếng của Thừa Thiên - Huế thực hiện bằng chất liệu chủ yếu là các loại gỗ quý như cẩm lai, mun... Với diện tích 882m2, Nhà Trăm Cột tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện quay về hướng Tây Bắc. Nhà làm bằng các loại gỗ cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật; mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch Tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ “Quốc”, 3 gian, 2 chái.
Nhà Trăm Cột mang phong cách “nhà rường” Huế.
Hội làng Thổ Hà
Làng Thổ Hà thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, lâu nay được coi là mảnh đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi có không gian văn hóa làng đặc trưng với các công trình đình, đền, chùa, tiêu biểu cho vùng Kinh Bắc. Cùng với nó còn có sự góp mặt của hội làng Thổ Hà, một trong những lễ hội đặc sắc ở Việt Nam.
Hội làng Thổ Hà được tổ chức trong ba ngày, từ 20 đến 22 tháng Giêng âm lịch, nhưng chính hội là ngày 21. Hội ba năm mới tổ chức rước một lần nên mỗi dịp có lễ hội là dân làng lại náo nức đón chờ. Từ Hà Nội, để có thể sang dự hội, chúng tôi phải qua bến đò Thổ Hà phía bờ hữu ngạn sông Cầu. Bến đò vào ngày hội làng tấp nập khác thường. Hướng tầm mắt về phía làng Thổ Hà thấy cổng chào bằng gỗ được dựng lên rất trang trọng. Anh lái đò giải thích rằng, tục lệ dựng cổng chào này đã có cả ngàn năm nay, từ thời nhà Lý (1010 - 1225). Thời ấy, cứ ngày mùng 5 Tết Nguyên đán, nhà vua lại cùng cận thần từ Thăng Long (nay là Hà Nội) đi thuyền xuôi sông Hồng xuống Hải Phòng rồi ngược sông Cầu lên đình Thổ Hà uống rượu làng Vân.
Hội làng Thổ Hà được tổ chức trong ba ngày, từ 20 đến 22 tháng Giêng âm lịch, nhưng chính hội là ngày 21. Hội ba năm mới tổ chức rước một lần nên mỗi dịp có lễ hội là dân làng lại náo nức đón chờ. Từ Hà Nội, để có thể sang dự hội, chúng tôi phải qua bến đò Thổ Hà phía bờ hữu ngạn sông Cầu. Bến đò vào ngày hội làng tấp nập khác thường. Hướng tầm mắt về phía làng Thổ Hà thấy cổng chào bằng gỗ được dựng lên rất trang trọng. Anh lái đò giải thích rằng, tục lệ dựng cổng chào này đã có cả ngàn năm nay, từ thời nhà Lý (1010 - 1225). Thời ấy, cứ ngày mùng 5 Tết Nguyên đán, nhà vua lại cùng cận thần từ Thăng Long (nay là Hà Nội) đi thuyền xuôi sông Hồng xuống Hải Phòng rồi ngược sông Cầu lên đình Thổ Hà uống rượu làng Vân.
Lễ rước Thành hoàng làng của hội làng Thổ Hà.
Chuồn chuồn Phú Quốc
Phú Quốc (Kiên Giang) được mệnh danh là “đảo ngọc” bởi sự giàu có của thiên nhiên và tiềm năng du lịch phong phú. Vườn quốc gia Phú Quốc có một lớp thảm thực vật phong phú cùng độ che phủ hơn 80% rừng tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài côn trùng ẩn náu và phát triển mạnh mẽ, trong đó có 54 loài chuồn chuồn (chiếm 23% trong tổng số 235 loài chuồn chuồn Việt Nam được công bố năm 2006) được Tổ chức WAR (Wildlife At Risk), một tổ chức phi chính phủ hoạt động bảo tồn tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam, ghi nhận.
Khu hệ chuồn chuồn Phú Quốc khá phong phú được coi là nhóm động vật đầy màu sắc tự nhiên: trắng, đen, xanh, vàng, đỏ, tía... Điều lí thú là có những loài từng được các nhà khoa học thế giới công bố phát hiện cách đây 100 năm hay 200 năm nay cũng lại thấy ở Phú Quốc như: Newrobasis chinsis (Linnaeus, 1758), Orthetrum chrysis (Selys, 1891). Tháng 12/2008, WAR ghi nhận thêm 5 loài chuồn chuồn mới ở Phú Quốc được phát hiện dọc theo một số con suối chảy qua các khu rừng và các vùng địa hình khác nhau. Do nhóm chuồn chuồn chưa được nghiên cứu nhiều nên tên các loài vẫn chỉ thể hiện ở dạng tên khoa học. Tên chuồn chuồn Việt Nam đa số gọi theo dân gian, dựa vào hình dáng hay màu sắc như: chuồn chuồn ớt, chuồn chuồn ngô, chuồn chuồn kim…
Khu hệ chuồn chuồn Phú Quốc khá phong phú được coi là nhóm động vật đầy màu sắc tự nhiên: trắng, đen, xanh, vàng, đỏ, tía... Điều lí thú là có những loài từng được các nhà khoa học thế giới công bố phát hiện cách đây 100 năm hay 200 năm nay cũng lại thấy ở Phú Quốc như: Newrobasis chinsis (Linnaeus, 1758), Orthetrum chrysis (Selys, 1891). Tháng 12/2008, WAR ghi nhận thêm 5 loài chuồn chuồn mới ở Phú Quốc được phát hiện dọc theo một số con suối chảy qua các khu rừng và các vùng địa hình khác nhau. Do nhóm chuồn chuồn chưa được nghiên cứu nhiều nên tên các loài vẫn chỉ thể hiện ở dạng tên khoa học. Tên chuồn chuồn Việt Nam đa số gọi theo dân gian, dựa vào hình dáng hay màu sắc như: chuồn chuồn ớt, chuồn chuồn ngô, chuồn chuồn kim…
Đua ngựa truyền thống trên gò Thì Thùng
Đã trở thành truyền thống, vào mỗi dịp xuân về, những chú ngựa thồ quanh năm gắn bó với cuộc sống người dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên lại có dịp tham gia vào Hội đua ngựa gò Thì Thùng. Năm nay, 32 kỵ sĩ là nông dân chân chất đã tham gia ngày hội, thu hút hàng ngàn người dân địa phương và du khách gần xa đến xem.
Gò Thì Thùng cách tỉnh lỵ Phú Yên khoảng 40 cây số về phía Tây Bắc và là di tích lịch sử cấp Quốc gia với địa hình bằnh phẳng. Do vậy, mặc dù địa điểm đua ngựa chỉ là một khoảng đất trống rộng hơn một sân vận động và ở độ cao 440 mét so với mặt nước biển nhưng đã thu hút hàng ngàn người trong, ngoài tỉnh nô nức về đây chen dọc hai bên đường đua dài chừng một cây số để thưởng thức, cổ vũ. Ở cuộc đua năm nay, xã An Hiệp đã giành giải nhất toàn đoàn. Tuy nhiên, giải thưởng lớn nhất là mọi người được dự ngày hội Năm mới và xem những chú ngựa lướt sóng trên đường đua như thế nào.
Đua ngựa truyền thống trên gò Thì Thùng (xã An Xuân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) đã trở thành một trong những hoạt động văn hoá đặc sắc của người dân nơi đây. Ngày hội đua ngựa năm nay diễn ra vào mồng 9 Tết (ngày 11/2 Dương lịch) với 32 kỵ sĩ là những nông dân chân chất, sống ở các xã An Cư, An Hiệp, An Lĩnh, An Thọ và An Xuân thuộc huyện Tuy An.
Gò Thì Thùng cách tỉnh lỵ Phú Yên khoảng 40 cây số về phía Tây Bắc và là di tích lịch sử cấp Quốc gia với địa hình bằnh phẳng. Do vậy, mặc dù địa điểm đua ngựa chỉ là một khoảng đất trống rộng hơn một sân vận động và ở độ cao 440 mét so với mặt nước biển nhưng đã thu hút hàng ngàn người trong, ngoài tỉnh nô nức về đây chen dọc hai bên đường đua dài chừng một cây số để thưởng thức, cổ vũ. Ở cuộc đua năm nay, xã An Hiệp đã giành giải nhất toàn đoàn. Tuy nhiên, giải thưởng lớn nhất là mọi người được dự ngày hội Năm mới và xem những chú ngựa lướt sóng trên đường đua như thế nào.
Tạo hồn cho đá
Khác với những làng đá nổi tiếng khác, nét độc đáo của làng đá Ninh Vân thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình chính là ở các sản phẩm đá mỹ nghệ được chế tác hoành tráng trên các công trình lớn như: đình, chùa, lăng mộ, tượng đài, phù điêu... Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, xưa kia, nơi đây đã nổi tiếng với nghề làm tượng đá cho kinh thành và đền chùa ở Hoa Lư, từ thời các vua Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009).
Nghệ nhân bậc thầy Hoàng Sùng, người gốc Thanh Hóa được coi là ông Tổ nghề chạm khắc đá mỹ nghệ Ninh Vân. Cái tên làng đá Ninh Vân vốn là tên gọi chung của hai làng Xuân Vũ và làng Hệ. Trong đó, làng Hệ là nơi khởi đầu nghề điêu khắc đá, nơi còn lưu giữ văn bia ghi công ông Tổ nghề, ngày giỗ Tổ vào tháng 8 (âm lịch) hàng năm.
Những người dân làng nghề cũng đã từng tới Thăng Long, theo vua Lý Thái Tổ sinh cơ lập nghiệp, tạo nên những bức tượng đá, thành quách và chùa chiền từ thời Lý (1010 - 1225) qua thời Trần (1225 - 1400).
Nghệ nhân bậc thầy Hoàng Sùng, người gốc Thanh Hóa được coi là ông Tổ nghề chạm khắc đá mỹ nghệ Ninh Vân. Cái tên làng đá Ninh Vân vốn là tên gọi chung của hai làng Xuân Vũ và làng Hệ. Trong đó, làng Hệ là nơi khởi đầu nghề điêu khắc đá, nơi còn lưu giữ văn bia ghi công ông Tổ nghề, ngày giỗ Tổ vào tháng 8 (âm lịch) hàng năm.
Người nghệ nhân đang thổi hồn vào phiến đá.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)