27 thg 1, 2026

Thung Nham - Xứ sở chim trời giữa lòng di sản Ninh Bình

Vào mùa cao điểm sinh sản, từ tháng 8 đến tháng 4 âm lịch, số lượng chim tại Vườn chim Thung Nham lên tới hàng chục nghìn cá thể. Ảnh: Thùy Dung - TTXVN

Khi nhắc đến Ninh Bình, người ta thường nghĩ ngay đến Quần thể danh thắng Tràng An hùng vĩ, những cánh đồng lúa xanh mướt hay vẻ đẹp trầm mặc của cố đô Hoa Lư. Tuy nhiên, ẩn mình giữa lòng di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới ấy còn tồn tại một "xứ sở" diệu kỳ, nơi hàng ngàn loài chim hội tụ, cất cánh bay lượn giữa không gian núi non trùng điệp - đó chính là Vườn chim Thung Nham.

Nằm trong Khu du lịch sinh thái Thung Nham, thuộc phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Vườn chim Thung Nham không chỉ là một điểm đến hấp dẫn mà còn là "lá phổi xanh", là minh chứng sống động cho sự đa dạng sinh học của vùng đất này. Được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An nay càng thêm phần phong phú với sự hiện diện của một trong những vườn chim tự nhiên lớn nhất miền Bắc.

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Khởi nghĩa Hương Khê và thủ lĩnh Phan Đình Phùng

Phan Đình Phùng, hiệu Châu Phong, tự Tôn Cát, sinh năm 1847 tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, H.La Sơn, phủ Đức Thọ (nay thuộc xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) trong một gia đình nổi tiếng thi thư, có tới mười hai đời nối nhau đỗ đạt và ra làm quan.

Một người cương trực

Năm 29 tuổi (1876), Phan Đình Phùng thi đỗ cử nhân khoa Bính Tý, năm sau (1877) đỗ Tiến sĩ.

Phan Đình Phùng ra làm quan, nhanh chóng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng. Do đức tính liêm khiết và cương trực, ông được vua Tự Đức cho giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, một vị trí có quyền chỉ trích các quan lại đồng liêu, dẫn đến việc loại bỏ được nhiều kẻ bất tài, tham nhũng. Vua Tự Đức đã từng khen ngợi: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được).

Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.

Chân dung Phan Đình Phùng. Ảnh: TL

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Hoàng Đình Kinh - thủ lĩnh Tày kiên cường

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, thủ lĩnh người Tày Hoàng Đình Kinh chọn núi Tinh Lãng (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) làm căn cứ chính cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Nơi này có địa thế hiểm trở, thuận lợi cho phòng thủ và tổ chức lực lượng kháng chiến lâu dài.

Hoàng Đình Kinh (còn gọi là Cai Kinh), người dân tộc Tày, sinh năm 1830 tại xã Hòa Lạc, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Hoàng Đình Khoa, làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông thay cha làm cai tổng nên còn có tên gọi là Cai Kinh.

Núi Cai Kinh, nơi thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Đình Kinh xây dựng căn cứ kháng Pháp. ẢNH: TRƯƠNG HẰNG

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Nguyễn Duy Hiệu và Nghĩa hội Quảng Nam

Nghĩa hội hình thành

Trần Văn Dư húy Tự Dư, thụy Hoán Nhược, sinh năm Kỷ Hợi (1839) tại làng An Mỹ Tây, H.Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay thuộc xã Tây Hồ, TP.Đà Nẵng), trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ (1858), đỗ Cử nhân ân khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875).

Chân dung Nguyễn Duy Hiệu. Ảnh: T.L

Cuối năm Quý Mùi (1884), Trần Văn Dư được điều về Quảng Nam giữ chức Sơn phòng sứ. Sơn Phòng là một tổ chức quân sự đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và kiểm soát các vùng biên giới, miền núi hiểm trở của đất nước. Vì vậy, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (tháng 7.1885), triều đình do Hoàng Thái hậu Từ Dụ nhiếp chính có xu hướng hòa hoãn với Pháp, nhận thấy việc Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ là điều bất lợi nên ra dụ điều chuyển ông vào làm Bố chính sứ Bình Thuận và cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu lên thay. Trần Văn Dư khước từ không nhận chỉ dụ, tuy vẫn bàn giao chức vụ, rồi bỏ về quê, không hợp tác với triều đình.

40 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Mai Xuân Thưởng phất cao cờ nghĩa

Phong trào Cần Vương ở Bình Định (1885 - 1887) là một bộ phận quan trọng của phong trào Cần Vương cả nước với đặc điểm nổi bật là hưởng ứng sớm, phát triển mạnh mẽ, có quy mô lớn và mang tính nhân dân sâu rộng.

Đào Doãn Địch, người mở đầu

Người đầu tiên tổ chức lực lượng nghĩa binh hưởng ứng dụ Cần Vương ở Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai) là Đào Doãn Địch. Ông sinh năm Quý Tỵ (1833), người làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay thuộc xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai.

Ngày 5.7.1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), ban chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân đứng lên chống Pháp. Đào Doãn Địch được Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, người cầm đầu phe chủ chiến trong triều đình, sai về Bình Định, làm nhiệm vụ phổ biến chiếu Cần Vương, thăm dò tình hình địch và tổ chức lực lượng kháng chiến.

Lối vào một pháo đài trong thành Bình Định, nơi nghĩa quân Cần Vương Bình Định từng đánh chiếm vào năm 1885. ẢNH: TƯ LIỆU THẬP NIÊN 1920

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Lê Thành Phương và cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên

Tháng 7.1885, khi chiếu Cần Vương được đưa đến Phú Yên, nhiều sĩ phu, văn thân yêu nước đứng ra thành lập các đạo quân ứng nghĩa để chống giặc, trong đó có Thống soái Bình Tây Lê Thành Phương.

Thủ lĩnh nghĩa quân tài ba

Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh, tỉnh Phú Yên cũ (nay là thôn Mỹ Phú, xã Ô Loan, tỉnh Đắk Lắk), là con thứ sáu trong 8 người con của cụ ông Lê Thanh Cao và cụ bà Nguyễn Thị Minh.

Đền Lê Thành Phương. Ảnh: Tư liệu Ban quản lý

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Quyết tử chiến đấu ở căn cứ Ba Đình

Cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất bại, nhưng tên tuổi Đinh Công Tráng và các nghĩa sĩ Cần Vương mãi mãi khắc ghi vào lịch sử giữ nước oai hùng.

Ông Chánh tổng yêu nước

Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần (1842), tại làng Tràng Xá, nay là xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình. Khi Pháp đưa quân xâm chiếm Bắc kỳ lần thứ 2 (năm 1882), Đinh Công Tráng (khi đó đang là Chánh tổng) tình nguyện gia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm, rồi tham gia trận Cầu Giấy ngày 19.5.1883, đánh bại đội quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy.

Đinh Công Tráng. Ảnh: T.L

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy

Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, hai thủ lĩnh Đinh Gia Quế và Nguyễn Thiện Thuật đã lãnh đạo người dân vùng Bãi Sậy (Hưng Yên) đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Cờ nghĩa của Đinh Gia Quế

Đinh Gia Quế (1825 - 1885), còn được biết đến với tên gọi Đổng Quế, là vị thủ lĩnh tối cao đầu tiên của phong trào vũ trang chống Pháp tại Bãi Sậy vào cuối thế kỷ 19. Ông sinh ngày 10.12.1825 (tức ngày 1.11 năm Ất Dậu) tại làng Nghiêm Xá, phủ Thường Tín (nay thuộc TP.Hà Nội). Thuở còn trẻ, Đinh Gia Quế theo con đường Nho học và đỗ Khóa sinh. Sau đó, ông chuyển đến làng Thọ Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) để dạy học, rồi thăng tiến qua các chức vụ Chánh tổng và Chánh tuần huyện Đông Yên.

Nguyễn Thiện Thuật. Ảnh: Tư liệu

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025) Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên

Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên trong cả nước nổ ra tại Quảng Ngãi do Chánh tướng Lê Trung Đình cùng hai phó tướng là Nguyễn Tự Tân và Nguyễn Tấn Kỳ lãnh đạo.

Ba vị thủ lĩnh

Lê Trung Đình hiệu là Long Cang, sinh năm Đinh Tỵ (1857), người làng Phú Nhơn, nay thuộc phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi. Ông thi đỗ cử nhân khoa Giáp Thân (1884) ở trường thi Hương Bình Định. Là người dũng lược và có uy tín, Lê Trung Đình được văn thân Quảng Ngãi cử làm Chánh quản hương binh, sau đó lại được Nguyễn Duy Cung - lúc bấy giờ đang giữ chức Tham biện sơn phòng Nghĩa Định, bí mật cử ra kinh đô yết kiến người cầm đầu phe chủ chiến là đại thần Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh tổ chức lực lượng và xây dựng kế hoạch chuẩn bị chống Pháp.

Nhà thờ Lê Trung Đình. Ảnh: LHK

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương

Sau khi dẹp được phe chủ hòa, khống chế triều nội, phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tích cực chuẩn bị lực lượng đánh Pháp. Căn cứ Tân Sở ở miền núi Quảng Trị được xây dựng để tính kế lâu dài.

Kinh thành thất thủ

Về phía Pháp, cuối tháng 5.1885, tướng De Courcy được bổ làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung kỳ. Ngày 2.7.1885, De Courcy đến Huế, mang theo một tiểu đoàn lính Phi châu cùng những yêu sách ngang ngược như yêu cầu Nam triều ra lệnh cho sĩ phu và dân chúng tuân phục hoàn toàn chính thể bảo hộ, đặt điều kiện là khi phái đoàn vào đến Hoàng thành, vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng đích thân ra đón. Ngoài ra còn đòi tất cả nhân viên trong phái đoàn của Pháp phải được đi vào Đại Nội bằng cửa chính Ngọ Môn. Sự ngạo mạn của phía Pháp khiến phe chủ chiến tức giận và quyết định ra tay trước.

Vua Hàm Nghi. ẢNH: TƯ LIỆU

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Triều đình rối ren, đất nước rơi vào tay giặc

140 năm đã trôi qua từ ngày đại thần Tôn Thất Thuyết, lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất, và sau đó vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần thứ hai, làm bùng lên phong trào yêu nước đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược với hàng loạt cuộc khởi nghĩa của sĩ phu văn thân và nhân dân VN.

Năm 1883, vua Tự Đức băng hà sau 36 năm trị vì. Cái chết của ông vua này, cùng những mâu thuẫn vốn sẵn trong triều nội, đã góp phần đẩy đất nước vào một giai đoạn bi đát.

Tiếng súng xâm lăng ở Đà Nẵng

Ngày 31.8.1858, lấy cớ bảo vệ quyền lợi thương mại và truyền giáo, liên quân Pháp và Tây Ban Nha do Phó đô đốc Charles Rigault De Genouilly chỉ huy đưa chiến thuyền đến ngoài khơi Đà Nẵng và hôm sau 1.9.1858, chúng tấn công chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm đất nước ta của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

QUÂN PHÁP TẤN CÔNG CỬA ĐÔNG - NAM THÀNH HÀ NỘI NGÀY 20.11.1873
ẢNH MINH HỌA CỦA ANDRÉ MASSON TRONG HANOÏ PENDANT LA PÉRIODE HÉROÏQUE (1873-1888), PARIS, 1929

26 thg 1, 2026

Chợ Viềng - Điểm hẹn văn hóa tâm linh

Chợ Viềng - phiên chợ đặc biệt chỉ họp duy nhất một lần trong năm tại vùng đất Trung Thành (Thiên Bản xưa, nay thuộc xã Hiển Khánh, tỉnh Ninh Bình) là biểu tượng văn hóa độc đáo, mang đậm chiều sâu tinh thần và ký ức cộng đồng của bao thế hệ không chỉ của người dân nơi đây mà còn là phiên chợ kỳ thú của du khách thập phương nhân dịp đầu năm.

Phiên chợ “mua may, bán rủi”

Chợ Viềng không đơn thuần là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa; phiên chợ chỉ diễn ra vào đêm mùng 7 rạng sáng mùng 8 tháng Giêng âm lịch - khoảnh khắc giao hòa giữa trời - đất - con người, giữa năm cũ và năm mới. Chính vì mỗi năm chỉ một lần ấy khiến Chợ Viềng trở thành điểm hẹn văn hóa thiêng liêng, được người dân và du khách thập phương háo hức chờ đón. Người đến chợ không đơn thuần là mua bán mà gửi gắm ước vọng về một năm mới bình an, hanh thông và đủ đầy, vậy nên trong dân gian mới gọi là phiên chợ “mua may, bán rủi”.

Đông đảo người dân, du khách đi chợ Viềng Xuân. Ảnh: Công Luật - TTXVN

Những mái nhà rêu phong dưới chân núi Tây Côn Lĩnh

Những ngôi nhà với mái rêu phong xanh giữa núi rừng vùng biên giới Thanh Thủy (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ - TTXVN

Ẩn mình dưới dãy Tây Côn Lĩnh hùng vĩ, làng rêu Xà Phìn - xã biên giới Thanh Thủy (Tuyên Quang) hiện ra như một bức tranh thủy mặc. Những nếp nhà sàn lợp lá cọ phủ kín rêu xanh, hòa quyện cùng mây trắng, ruộng bậc thang và những gốc chè Shan Tuyết cổ thụ, tạo nên vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính, rất riêng của miền biên viễn.

Heo đất - Sắc màu truyền thống trong nhịp mua sắm hiện đại

Mỗi dịp Tết đến xuân về, hình ảnh những chú heo đất với dáng tròn đầy, màu sắc tươi tắn lại xuất hiện khắp các chợ quê, cửa hàng và trong mỗi mái nhà, như một lời chúc cho năm mới an khang, tài lộc dồi dào và khởi đầu tốt đẹp.

Thời điểm cận kề Tết Bính Ngọ 2026, các hộ nung heo đất truyền thống tại Phường Tân Khánh, TP. Hồ Chí Minh lại trở nên nhộn nhịp hơn.

Dù chịu tác động của biến động thị trường và sự cạnh tranh từ các sản phẩm tiết kiệm hiện đại nhưng heo đất – vật phẩm quen thuộc gắn với Tết cổ truyền - vẫn giữ được chỗ đứng riêng nhờ giá trị văn hóa và nhu cầu biếu tặng dịp đầu năm.

Tại xưởng làm heo đất trên 30 năm tuổi của ông Nguyễn Văn Nhàn (khu phố Khánh Lợi, phường Tân khánh), người thợ đổ đất vào khuôn để làm heo đất. Ảnh: Huyền Trang - TTXVN

Bún khô ngũ sắc - nét độc đáo của ẩm thực Cao Bằng

Nhiều màu sắc rực rỡ tạo nên nét độc đáo của sản phẩm bún khô Cao Bằng. Ảnh: Chu Hiệu-TTXVN

Từ những giống gạo cổ của người dân tộc thiểu số sinh sống tại Cao Bằng kết hợp với kinh nghiệm và áp dụng khoa học kĩ thuật, các cơ sở sản xuất bún trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã sáng tạo ra bún khô ngũ sắc. Ngoài bún cẩm (màu tím), bún ngô (màu vàng), còn có các loại bún làm từ gạo lứt đỏ, lá chùm ngây màu xanh lá, hoa đậu biếc màu xanh trời, khoai lang tím…Bún ngũ sắc với cách làm dân giã, từ các nguyên liệu từ thiên nhiên, an toàn, tốt cho sức khỏe đang ngày càng được người dân yêu thích, sử dụng trong các món ăn hàng ngày. Một món ăn tuy đơn giản nhưng lại mang nhiều màu sắc như chính con người miền núi Cao Bằng.

25 thg 1, 2026

Lò rèn Tơ Niam Dup - Điểm nhấn độc đáo trong văn hóa của người Xơ Đăng

Người Xơ Đăng - nhánh Tơ Đrá, sinh sống tập trung ở các xã Đăk Ui, Ngọc Réo, Đăk Kôi, tỉnh Quảng Ngãi. Nằm giữa không gian trùng điệp của núi rừng, chuyện phục dựng và gìn giữ lò rèn Tơ Niam Dup theo nguyên mẫu đang góp phần tạo điểm nhấn độc đáo trong văn hóa và phát triển du lịch của người Xơ Đăng nơi đây.

Làng nghề truyền thống của người Xơ Đăng - nhánh Tơ Đrá ở xã Ngọc Réo, tỉnh Quảng Ngãi

Thưởng thức cá tầm nướng than hoa trên núi Tam Đảo

Tam Đảo là vùng đất lạnh, sương dày và những dòng nước sâu, đây là điều kiện tự nhiên tạo nên cá tầm có thớ thịt chắc, vị ngọt rõ và khả năng chịu nhiệt tốt khi chế biến. Trong cái lạnh ấy, bếp lửa không những dùng để sưởi ấm, để quây quần mà còn để làm chín những món ăn cần thời gian và chiều sâu hương vị. Cá tầm nướng than hoa ra đời từ chính tinh thần đó, khi cá được ướp đủ lâu, đặt lên bếp than hồng và để lửa, khói cùng gia vị thấm dần vào từng thớ thịt, tạo nên một món ăn mộc mạc nhưng đậm đà, tôn vinh trọn vẹn giá trị của nguyên liệu.

Cá tầm nướng than hoa, món ăn nên thưởng thức khi đến với Tam Đảo. Ảnh: Trần Thanh Giang/Báo ảnh Việt Nam

Từ dòng nước lạnh nơi núi cao Tam Đảo, cá tầm được đưa về bếp than hoa, ướp chậm, nướng vừa, để lớp da xém lửa và thớ thịt giữ trọn vị ngọt. Mùi khói lan nhẹ, dậy lên hương cá, mở ra một cách thưởng thức mộc mạc nhưng đầy cuốn hút. Trước khi nướng, cá tầm được ướp trong nhiều giờ với các gia vị bản địa. Không phải để át vị cá, mà để đánh thức vị ngọt sẵn có trong thịt. Gia vị thấm chậm, đi sâu, khiến phần thịt trở nên mềm hơn nhưng không bở và đậm đà hơn. Khoảng thời gian chờ đợi ấy là bước chuẩn bị cần thiết, để khi cá đặt lên than, hương vị không bốc lên gấp gáp mà lan dần, đều và sâu.

Ẩm thực chay và hành trình bền vững cho sức khỏe và môi trường

Món mít non kho chay. Ảnh: Hoàng Liên Sơn - TTXVN

Trong những năm gần đây, xu hướng “ăn lành - sống xanh” đã ngày càng lan tỏa mạnh mẽ tại Việt Nam, trở thành một lối sống được nhiều người dân, đặc biệt là giới trẻ, lựa chọn. Trong đó, ẩm thực chay lành nổi bật như một lựa chọn không chỉ tốt cho sức khỏe cá nhân mà còn góp phần bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững cho hành tinh.

Truyền thống ăn chay tại Việt Nam đã tồn tại từ lâu, gắn liền với yếu tố tín ngưỡng, tâm linh, đặc biệt là trong các dịp lễ, Tết hay các ngày rằm, mùng một âm lịch. Nhiều người tìm đến ẩm thực chay để cải thiện sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Các chuyên gia dinh dưỡng, như bác sĩ Mai Hằng, khẳng định chế độ ăn chay khoa học, giàu rau xanh, trái cây, chất xơ, vitamin và khoáng chất có thể giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường type 2, và một số loại ung thư.

Trung ương Cục miền Nam - Điểm hẹn tri ân, bồi đắp niềm tự hào dân tộc

Nhà làm việc của cán bộ lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam đặt trong Khu căn cứ được xây dựng giữa rừng nguyên sinh. Ảnh: Giang Phương - TTXVN

Giữa đại ngàn xanh thẳm của chiến khu xưa, Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, thuộc xã Tân Lập, tỉnh Tây Ninh hôm nay không chỉ là một địa danh lịch sử, mà còn là điểm hẹn lắng sâu của ký ức và lòng tri ân.

Mỗi bước chân trở lại nơi đây như chạm vào dấu tích những năm tháng gian khổ, nơi ý chí và khát vọng độc lập của dân tộc được hun đúc. Hành trình về Trung ương Cục miền Nam, hay còn gọi Căn cứ “R,” là hành trình trở về cội nguồn, để tưởng nhớ, biết ơn và tiếp nối những giá trị lịch sử thiêng liêng.

24 thg 1, 2026

Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê: Hội tụ những giá trị nổi bật để trở thành Di sản văn hoá thế giới


Khu di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo - Ba Thê (xã Óc Eo, tỉnh An Giang) là một quần thể di tích đặc biệt quan trọng phản ánh nền văn hóa Óc Eo cổ đại (thế kỷ 1-7) và Vương quốc Phù Nam. Đây là quần thể di tích kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng có quy mô, nơi tập trung dày đặc các di tích khảo cổ đặc sắc nhất ở Nam Bộ; góp phần phác họa diện mạo về một trung tâm tôn giáo lớn và đời sống văn hóa rất đặc sắc của cư dân đô thị cổ Óc Eo trong lịch sử.