Nếu hoa muồng vàng mê mải triền thu, dã quỳ rực rỡ báo đông cùng vạt cỏ hồng quyến rũ thì những cánh đỗ mai bay trong chiều gió báo tin rằng mùa xuân đã cận kề.
Mùa đỗ mai về như một lời chào mùa xuân, một món quà bất ngờ mà tạo hóa ban tặng cho con người. Nhớ những ghi chú trong sách rằng, đỗ mai có nguồn gốc từ châu Mỹ, tên khoa học là Gliricidia sepium, thuộc họ đậu (Fabaceae) lá kép với màu xanh pha trắng.
Đỗ mai có nhiều tên gọi như: điệp anh đào, đào đậu, cọc rào, hồng mai… Nhiều người vẫn lầm tưởng đó là hoa anh đào (một loài hoa có nguồn gốc từ Nhật Bản), có lẽ bởi hoa nở rộ khi xuân về và màu hoa cũng tựa như sắc hoa anh đào. Cũng có tài liệu cho rằng, vì quả của đỗ mai giống quả đậu và hoa thì giống như hoa mai nên tên gọi hoa đỗ mai cũng từ đó mà ra.
24 thg 1, 2024
23 thg 1, 2024
Giải mã bí mật phong thủy của nhà thờ đá Phát Diệm
Có thể khẳng định nhà thờ Phát Diệm là một công trình mang sự giao thoa văn hóa Đông – Tây đậm nét. Trong đó, nét Á Đông không chỉ thể hiện qua chi tiết kiến trúc mà còn ở yếu tố phong thủy đặc sắc.
Tọa lạc tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, nhà thờ đá Phát Diệm
được xây dựng từ năm 1875-1898, là một nhà thờ đẹp và độc đáo bậc nhất
Việt Nam. Đây cũng được coi là nhà thờ Thiên Chúa mang đậm nét nhất về
quan niệm phong thủy của người Việt
Trước hết, yếu tố phong thủy của nhà thờ này nằm ở hướng xây
dựng. Các kiến trúc sư phương Tây thường ưu tiên chọn trục Ðông - Tây để
xây dựng thánh đường. Riêng ở nhà thờ Phát Diệm, trục Nam – Bắc lại là
hướng chính, không tuân theo nghiêm lệ của truyền thống kiến trúc nhà
thờ phương Tây.
Xét về mặt Dịch lý phương Đông, phương Nam được coi là hướng của các bậc
đế vương, tượng trưng cho danh dự, trí tuệ, quyền lực, sự hưng thịnh.
Có lẽ những người xây nhà thờ Phát Diệm đã lựa chọn hướng đắc địa nhất về phong thủy này để tôn vinh Thiên Chúa theo cách thức đậm chất bản địa.
Án ngữ trước nhà thờ Phát Diệm là một hồ nước, diện tích khoảng 400 m².
Nằm giữa hồ là một hòn đảo nhỏ, rộng khoảng 40 m², phía trên đặt tượng
chúa Jesus. Hồ nước này là đặc điểm “lạ” trong kiến trúc nhà thờ phương
Tây, nhưng lại rất quen thuộc trong ứng dụng phong thủy ở Việt Nam.
Theo quan niệm phong thủy, hồ nước là một trong những yếu tố tạo nên
sinh khí và mang lại may mắn cho những người cư ngụ trong công trình. Hồ
nước thường được đặt trước nhà nhằm cân bằng năng lượng, tạo ra không
gian yên tĩnh, thư giãn và thu hút tài vận
Đa số các công trình trong quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm được bố
trí trải dài theo một trục chính và đối xứng qua trục, tuân theo những
quy luật bố trí rất phổ biến trong mặt bằng các kiến trúc tôn giáo
truyền thống
Lối bố trí này thể hiện sự tương đồng rất rõ nét với Kinh thành Huế, nơi
các công trình quan trọng nhất nằm dọc theo trục "thần đạo", các công
trình khác đối xứng hai bên.
Về hình dạng mặt bằng, các cổng cùng các nhà nguyện trong khuôn viên nhà
thờ tạo thành ba vạch ngang hợp với vạch sổ dọc là nhà thờ lớn ở trung
tâm, tạo thành một chữ “Vương”, nghĩa là “Vua” theo Hán tự
Mặt trước nhà thờ Phát Diệm có một trục đường đâm thẳng vào. Đây là điểm
kiêng kỵ theo quan niệm phong thủy phương Đông. Để hóa giải điều này,
trục chính của quần thể kiến trúc đã được đặt lệch một chút so với trục
đường lộ.
Các kiến trúc sư còn cho đào một ao hồ lớn, khiến cho lối vào chính được
chuyển sang hai cạnh bên của nhà thờ theo cách xử lý phong thủy của đa
số các các công trình kiến trúc truyền thống
Tựu chung, có thể khẳng định nhà thờ Phát Diệm là một công trình mang sự
giao thoa văn hóa Đông – Tây đậm nét. Trong đó, nét Á Đông không chỉ
thể hiện qua chi tiết kiến trúc mà còn ở yếu tố phong thủy đặc sắc. (Bài
có tham khảo tài liệu "Khái quát chung về lịch sử và sự ra đời của nhà
thờ Phát Diệm")
Quốc Lê
TP Hải Dương từng có sân bay cỡ nhỏ
Đô thị Hải Dương xưa từng có một sân bay cỡ nhỏ nhưng không nhiều người biết đến.
"Đường tàu bay"
Nhiều năm trước, lúc ngồi chuyện trò với mấy bác lớn tuổi gốc gác nhiều đời ở TP Hải Dương, các bác nói, nghe ông bà kể lại, ở đô thị Hải Dương xưa có một sân bay. Lúc thị xã Hải Dương thuộc quyền kiểm soát của người Pháp, các máy bay cỡ nhỏ chở quan chức Pháp thường xuyên lên xuống. Những chiếc máy bay cánh quạt "từ trên trời rơi xuống" thời ấy là một điều thật lạ lẫm. Nhưng khi hỏi lại, các bác nói, chỉ nghe kể lại, chắc chắn có, nhưng không biết sân bay đó ở đâu!
Đường Hồng Quang từng được gọi là đường Tàu bay vì tại đây từng có một sân bay cỡ nhỏ
"Đường tàu bay"
Nhiều năm trước, lúc ngồi chuyện trò với mấy bác lớn tuổi gốc gác nhiều đời ở TP Hải Dương, các bác nói, nghe ông bà kể lại, ở đô thị Hải Dương xưa có một sân bay. Lúc thị xã Hải Dương thuộc quyền kiểm soát của người Pháp, các máy bay cỡ nhỏ chở quan chức Pháp thường xuyên lên xuống. Những chiếc máy bay cánh quạt "từ trên trời rơi xuống" thời ấy là một điều thật lạ lẫm. Nhưng khi hỏi lại, các bác nói, chỉ nghe kể lại, chắc chắn có, nhưng không biết sân bay đó ở đâu!
Lên đỉnh Tơgu tìm nơi bok Núp bắn Pháp chảy máu
Năm 1987, chúng tôi về làng Stơr (xã Tơ Tung, huyện Kbang) “cùng ăn, cùng ở” với bà con để sờ tận tay, nhìn tận mắt, cảm nhận không gian… tại địa điểm có sự kiện diễn ra trong kháng chiến chống Pháp.
Đêm đêm nơi góc nhà sàn của làng, bên bếp lửa bập bùng, chúng tôi lắng nghe bok Jơt, bok Hep… kể chuyện. Cùng với những gì đã đọc trong tác phẩm “Đất nước đứng lên”, tôi hình dung rõ mồn một về ngôi làng đã ghi dấu kỳ tích “bắn Pháp chảy máu” của người Bahnar. Vậy là, tôi xin già làng Jơt bố trí cho một cuộc “lên núi”.
Chuyến đi ấy diễn ra vào một sáng mùa đông. Tôi và anh Trần Hữu Tài được bok Hep, anh A Nhoan dẫn đường. Đi cùng còn có 2 du kích thôn. Mỗi người đều đeo gùi, cầm rựa… để tranh thủ hái lượm thêm. Thường thì người Bahnar chỉ ra khỏi nhà khi mặt trời đã lên cao. Nhưng hôm ấy, bok Jơt giục chúng tôi đi từ khi mặt trời chưa mọc, vì bok nói, làng cũ xa lắm, phải qua nhiều núi, nhiều khe.
Chuyến đi ấy diễn ra vào một sáng mùa đông. Tôi và anh Trần Hữu Tài được bok Hep, anh A Nhoan dẫn đường. Đi cùng còn có 2 du kích thôn. Mỗi người đều đeo gùi, cầm rựa… để tranh thủ hái lượm thêm. Thường thì người Bahnar chỉ ra khỏi nhà khi mặt trời đã lên cao. Nhưng hôm ấy, bok Jơt giục chúng tôi đi từ khi mặt trời chưa mọc, vì bok nói, làng cũ xa lắm, phải qua nhiều núi, nhiều khe.
Chùa Đông Sơn trên đất cổ Hàm Rồng
Nằm trong không gian của làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa), tọa lạc trên triền núi Lợn Vàng, “nhìn” ra núi “con Voi, con Mèo” (theo cách gọi của người dân địa phương), chùa Đông Sơn tĩnh lặng như điểm nhấn cho “bức tranh” làng cổ thêm giàu giá trị.
22 thg 1, 2024
Đỗ mai nở rộ tô điểm sắc xuân cao nguyên Gia Lai
Những ngày đầu năm mới, đỗ mai bắt đầu nở rộ trên khắp các nẻo đường, điểm tô cho sắc xuân cao nguyên Gia Lai.
Gia Lai có những loài hoa đặc trưng nở theo mùa, và mỗi loài hoa đều mang tính biểu tượng. Vào mùa Xuân, không chỉ ngào ngạt hương hoa cà phê, thắm sắc đỏ hoa pơ lang mà còn man mác sắc hồng phai của đỗ mai trên khắp các nẻo đường.
Đỗ mai nở sớm nhất và nhiều nhất trên cung đường vào đập Tân Sơn (thôn 2, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh). Nhiều người vào thắng cảnh này không khỏi bâng khuâng trước màu hồng phai của đỗ mai dọc đường đi.
Anh Đoàn Lanh-một người dân địa phương ở đây chia sẻ: “Trước đây người dân thường trồng đỗ mai ở bờ rào, hay phân chia ranh giới đất nương rẫy. Bây giờ hoa được trồng ở khắp nơi, dọc các cung đường để lấy bóng mát và làm cảnh.
Hoa thường khoe sắc vào dịp Tết cổ truyền nên mỗi khi thấy hoa nở tôi cảm nhận rất rõ không khí mùa Xuân đang ùa về. Hoa đỗ mai không rực rỡ như các loài hoa khác, hoa đẹp theo cách riêng, giản dị nhưng khiến cho bức tranh du lịch của Gia Lai thêm sức sống. Rất nhiều bạn trẻ như tôi muốn tìm những khoảnh khắc bình yên với thiên nhiên, với hoa cỏ như vậy”.
Gia Lai có những loài hoa đặc trưng nở theo mùa, và mỗi loài hoa đều mang tính biểu tượng. Vào mùa Xuân, không chỉ ngào ngạt hương hoa cà phê, thắm sắc đỏ hoa pơ lang mà còn man mác sắc hồng phai của đỗ mai trên khắp các nẻo đường.
Đỗ mai nở sớm nhất và nhiều nhất trên cung đường vào đập Tân Sơn (thôn 2, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh). Nhiều người vào thắng cảnh này không khỏi bâng khuâng trước màu hồng phai của đỗ mai dọc đường đi.
Anh Đoàn Lanh-một người dân địa phương ở đây chia sẻ: “Trước đây người dân thường trồng đỗ mai ở bờ rào, hay phân chia ranh giới đất nương rẫy. Bây giờ hoa được trồng ở khắp nơi, dọc các cung đường để lấy bóng mát và làm cảnh.
Hoa thường khoe sắc vào dịp Tết cổ truyền nên mỗi khi thấy hoa nở tôi cảm nhận rất rõ không khí mùa Xuân đang ùa về. Hoa đỗ mai không rực rỡ như các loài hoa khác, hoa đẹp theo cách riêng, giản dị nhưng khiến cho bức tranh du lịch của Gia Lai thêm sức sống. Rất nhiều bạn trẻ như tôi muốn tìm những khoảnh khắc bình yên với thiên nhiên, với hoa cỏ như vậy”.
No bụng cùng cơm thố
Nhắc đến Tiệm ăn Chợ Lớn (Đà Nẵng), hẳn thực khách sẽ nghĩ ngay đến những thố cơm nóng giòn, đậm đà hương vị, hoặc nghĩ đến món mì vịt quay, mì xá xíu hay mì gà da giòn… Những hạt cơm dẻo thơm được nấu từ nồi đất, phảng phất hương vị đồng quê giúp quán ăn ngày càng đông khách.
Giữ nhịp chiêng Tha
Với người Brâu ở làng Đăk Mế (xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi), chiêng Tha là biểu tượng thông linh giữa thế giới phàm tục của con người với thế giới các vị thần, và là biểu tượng cho quyền lực linh thiêng. Bởi vậy khi có lễ trọng trong làng, người Brâu mới tổ chức “mời Tha nói” (Tha pơi) để cầu mong các thần linh che chở, bảo trợ cho gia đình có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Cùng với dân tộc Rơ Măm, dân tộc Brâu là 1 trong 2 dân tộc rất ít người sinh sống trên địa bàn tỉnh ta. Dân tộc Brâu sinh sống tập trung ở làng Đăk Mế, xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi với 174 hộ, 546 nhân khẩu. Mặc dù số lượng người rất ít nhưng đời sống văn hóa của người Brâu hết sức đa dạng với nhiều lễ hội truyền thống. Các loại nhạc cụ của người Brâu cũng phong phú, bao gồm goong đinh, ting ning, pông pông, đinh pú, klong pút, sáo… Đặc biệt là chiêng Tha, loại chiêng chỉ có trong cộng đồng tộc người Brâu.
Với người Brâu, chiêng Tha không chỉ là nhạc cụ mà còn là biểu tượng cho quyền lực linh thiêng, được coi là thành viên trong gia đình và được gìn giữ như báu vật. Một bộ chiêng Tha có hai chiếc lớn nhỏ khác nhau, đường kính khoảng 45 - 50cm, chiếc nhỏ là chiêng vợ (Chuar) và chiếc lớn hơn là chiêng chồng (Jơ Liêng); mỗi chiêng có khoan 2 lỗ để luồn dây treo lên khi biểu diễn.
Cùng với dân tộc Rơ Măm, dân tộc Brâu là 1 trong 2 dân tộc rất ít người sinh sống trên địa bàn tỉnh ta. Dân tộc Brâu sinh sống tập trung ở làng Đăk Mế, xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi với 174 hộ, 546 nhân khẩu. Mặc dù số lượng người rất ít nhưng đời sống văn hóa của người Brâu hết sức đa dạng với nhiều lễ hội truyền thống. Các loại nhạc cụ của người Brâu cũng phong phú, bao gồm goong đinh, ting ning, pông pông, đinh pú, klong pút, sáo… Đặc biệt là chiêng Tha, loại chiêng chỉ có trong cộng đồng tộc người Brâu.
Với người Brâu, chiêng Tha không chỉ là nhạc cụ mà còn là biểu tượng cho quyền lực linh thiêng, được coi là thành viên trong gia đình và được gìn giữ như báu vật. Một bộ chiêng Tha có hai chiếc lớn nhỏ khác nhau, đường kính khoảng 45 - 50cm, chiếc nhỏ là chiêng vợ (Chuar) và chiếc lớn hơn là chiêng chồng (Jơ Liêng); mỗi chiêng có khoan 2 lỗ để luồn dây treo lên khi biểu diễn.
Bộ tượng tam thế Phật chùa Côn Sơn trở thành bảo vật quốc gia
Ngày 18/1, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định công nhận bảo vật quốc gia (đợt 12) đối với 29 bảo vật trong toàn quốc. Hải Dương có 3 bảo vật được công nhận.
21 thg 1, 2024
Bông giấy
Miền Nam kêu hoa là bông. Hầu hết các loại bông hoa đều có thể thay đổi lẫn lộn giữa chữ hoa và chữ bông, như hoa mai, hoa cúc, hoa huệ... thành bông mai, bông cúc bông huệ.
Có một thứ bông mà không đổi thành hoa, và tên của nó phải đi kèm chữ bông chớ không đứng một mình được, đó là bông bụp. Không ai kêu là hoa bụp, cũng không kêu gọn lỏn là bụp (ờ, kêu bụp là hiểu khác à nghen).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
.jpg)





.jpg)