12 thg 5, 2026

Xã Cần Giuộc tổ chức Lễ cúng Kỳ Yên đình Bình Đức

Ngày 01/5 (nhằm 15 tháng 3 Âm lịch), tại Khu di tích lịch sử cấp tỉnh đình Bình Đức (ấp Long Hậu 4, xã Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh), Ban Hội hương đình tổ chức Lễ cúng Kỳ Yên năm 2026. 

Lãnh đạo xã Cần Giuộc thực hiện nghi thức dâng hương, cầu an tại đình

Tham dự có Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Võ Quốc Thanh; Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Ngọc Anh; Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Nguyễn Thanh Lộc.

Lễ Kỳ Yên diễn ra với các nghi thức truyền thống như: thỉnh sắc, dâng hương, đọc văn tế, lễ chính tế,… qua đó thể hiện lòng thành kính đối với Thành hoàng Bổn cảnh và các bậc tiền nhân có công khai phá, lập làng, gìn giữ và phát triển vùng đất Long Hậu xưa và nay thuộc xã Cần Giuộc. 

Xã Cần Giuộc tổ chức Lễ cúng Kỳ yên đình Chánh Tân Kim

Sáng 04/3 (nhằm ngày 16 tháng Giêng năm Bính Ngọ), tại Khu di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh đình Chánh Tân Kim, ấp Tân Xuân, xã Cần Giuộc, tỉnh Tây Ninh, Ban Quản lý di tích cùng Ban hội hương tổ chức Lễ cúng Kỳ yên năm 2026. 

Lãnh đạo địa phương và lực lượng vũ trang dâng hương tưởng niệm tiền hiền, liệt sĩ tại đình

Dự lễ có Thượng tá Ngô Khánh - Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tây Ninh; Bí thư Đảng ủy xã Phạm Văn Bốn; Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Võ Quốc Thanh; Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Ngọc Anh; lãnh đạo các ban, ngành xã cùng người dân trong và ngoài địa phương.

11 thg 5, 2026

Khám phá những đồng tiền gắn liền với lịch sử dân tộc

Trong không gian trưng bày tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2 (số 08 Võ Văn Kiệt, thành phồ Hồ Chí Minh), triển lãm “Đồng tiền Việt Nam - Hành trình theo dòng chảy lịch sử dân tộc” mang đến cho công chúng một cách tiếp cận lịch sử gần gũi: nhìn lại quá khứ qua những đồng tiền - vật quen thuộc trong đời sống hằng ngày.

Du khách tham quan mô hình Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2, số 08 Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh nơi diễn ra triển lãm. Ảnh: Thông Hải/Báo ảnh Việt Nam

Không cần nhiều thuyết minh, những tờ giấy bạc đã nhuốm màu thời gian đủ sức giữ chân người xem. Từ nét in, chất liệu đến các yếu tố bảo an, mỗi chi tiết đều phản ánh bối cảnh kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử.

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đánh dấu bước chuyển từ cơ chế tiền tệ quốc khố sang cơ chế tín dụng ngân hàng. Đồng tiền tài chính được thay thế bằng giấy bạc ngân hàng, do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành và quản lý lưu thông.

Lễ Kỳ Yên đình Long Thành

Sáng 04/5, Ban Hội đình Long Thành (phường Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) tổ chức Lễ rước hương từ mộ cụ Trần Văn Thiện về đình Long Thành và tổ chức Lễ Kỳ Yên. Tham dự có Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam phường Hòa Thành Nguyễn Ngọc Ánh. 

Lãnh đạo địa phương niệm hương bái lễ Thần Hoàng Bổn Cảnh Trần Văn Thiện

Lễ Kỳ Yên của đình diễn ra vào ngày 17 và 18 tháng 3 Âm lịch hằng năm, theo nghi thức tôn giáo Cao Đài.

Điểm hẹn dưới bóng đa An Hải

Mới đây, tôi đi ngang qua cây đa cổ thụ trên đường Nguyễn Công Trứ, phường An Hải. Nhìn cây đa, tôi chợt nhớ tới câu chuyện từ các chiến sĩ trinh sát an ninh quận 3 kể về một cô gái xinh đẹp, có sức chịu đựng phi thường với đòn roi hung bạo của kẻ thù.

Cô Trần Thị Tiết thời trẻ. Ảnh: Tư liệu

Dưới gốc đa này, cô Trần Thị Tiết đã nhiều lần cung cấp các thông tin tuyệt mật trong nội bộ chính quyền Việt Nam cộng hòa, đặc biệt là các thông tin liên quan đến bộ máy đàn áp của địch tại Đà Nẵng.

Chuyện đặt tên làng xưa ở xứ Quảng

Tên làng (thôn, xã, phường, châu) là một thành tố quan trọng của bản sắc văn hóa. Không đơn thuần là tên đơn vị hành chính, tên làng là ký ức, sợi dây kết nối, nguồn lực tinh thần vô giá của cộng đồng dân cư trong làng.

Tên gọi của những ngôi làng xứ Quảng góp phần làm nên bản sắc của làng . Ảnh: L.T.K

Làng người Việt ở Quảng Nam được thành lập cùng với quá trình xác lập cương vực của quốc gia Đại Việt bắt đầu từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, tài liệu sớm nhất đề cập đến tên các làng ở Quảng Nam là sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An được viết vào năm 1553. Đây là thư tịch cổ quý giá ghi chép 66 làng vùng Nam Hải Vân thuộc phía Bắc của tỉnh Quảng Nam xưa, trong đó có nhiều làng nổi tiếng như Phiếm Ái, Ái Nghĩa (Ái Đái), Túy Loan (Thúy Loan), Cẩm Toại (Kim Toại), Cẩm Lệ, Câu Nhi…

10 thg 5, 2026

Về xứ Mường: Độc đáo gốm Mường

Người Mường vốn không làm gốm nhưng một họa sĩ đã dùng hơn 10 năm 'biến hóa' cùng đất tổ mối, men tro, nguyên liệu bản địa để khai sinh dòng nghệ thuật mới: gốm Mường.

Trong không gian mênh mang của Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, dễ bắt gặp những hình khối gốm, chất liệu quen nhưng tạo hình khác biệt, sắc men giản dị nhưng sâu lắng, nhiều chi tiết hỏa biến nhờ nung - đốt tinh tế mà mộc mạc. Chủ nhân của chúng, họa sĩ Vũ Đức Hiếu, gọi đó là "gốm Mường".

Người Mường xưa không làm gốm nhưng họa sĩ Vũ Đức Hiếu lại dùng chữ "Mường" để đặt tên cho dòng gốm do mình khai sinh. Anh nói: "Trong lịch sử gốm Việt, nhiều dòng gốm cũng mang tên vùng đất như Bát Tràng, Chu Đậu, Gò Sành, Lái Thiêu… Tôi chỉ tiếp nối cách định danh ấy, nhưng với không gian văn hóa Mường đương đại".

Họa sĩ Vũ Đức Hiếu trong công đoạn vào men cho tác phẩm gốm Mường. Ảnh: P.A

Về xứ Mường: Chuyện 'chiêng có hồn'

Chỉ bằng cái xoa nhẹ, chiếc chiêng cổ bỗng ngân lên thứ âm thanh lạnh sống lưng. Nhưng lạ thay, cũng chiếc chiêng ấy, người khác xoa mãi, chiêng vẫn im lặng.

Người Mường tin rằng chiêng có hồn. Chiêng không chỉ là nhạc cụ, mà là tiếng nói của làng bản, là linh hồn của nghi lễ, hội hè. Không phải ai cũng chơi được chiêng xứ Mường. Nhiều gia đình mỗi khi đem chiêng ra sử dụng còn phải làm nghi lễ cúng bái để "đánh thức chiêng".

Nghệ nhân Nguyễn Văn Thực và chiếc chiêng xoa độc đáo. ẢNH: L.Y

Về xứ Mường: Câu hò xin thần rừng và nhà lang cuối cùng

Muốn lắng nghe hồn vía xứ Mường, phải về Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) - vùng đất được xem là địa bàn cư trú cổ xưa nhất của người Mường (chiếm hơn 60% dân số).

Từ QL6, qua Mường Khan, Mường Khến…, chúng tôi rẽ vào Tân Lạc - Mường Bi xưa - đúng mùa vàng đương vụ, thung lũng như khoác tấm áo rực rỡ nhất trong năm. Đường vào Mường Bi nức mùi lúa chín…

HÒ MƯỜNG - THANH ÂM DĨ VÃNG

Hò Mường còn gọi là hò kéo gỗ. Tư liệu chi tiết về lời ca cụ thể của điệu hò này rất hiếm nhưng sự tồn tại của nó gắn liền với nghi lễ dựng nhà sàn. Việc kéo những cây gỗ lớn từ rừng về bản đòi hỏi sức mạnh tập thể. Tiếng hò ở đây đóng vai trò như nhịp đếm để đồng bộ hóa sức lực của hàng chục con người. Đồng thời, điệu hò còn mang ý nghĩa tâm linh: lời xin phép thần rừng, thần cây trước khi đưa gỗ về làm nhà.

Họa sĩ Hiếu "Mường" (Vũ Đức Hiếu, người có hơn 20 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Mường) kể lại: "Tôi biết điệu hò Mường khoảng năm 2007 khi thuê phường mộc Tuân Lộ (Mường Bi) dựng lại nhà lang (kiến trúc đặc trưng của người Mường). Khi dựng cột, kéo gỗ, họ cất tiếng hát, khi đến cuối câu, ngắt nhịp, lại nghe: Hò dô! Hò ả! Hỏi ra mới biết đó là hò Mường".

Đỉnh núi cột cờ nơi cánh đồng Mường Bi. Ảnh: P.A

Về xứ Mường: 'Quái ngư' sông Đà trong cỗ lá Mường

Tại sao dân sành ăn lại mê mẩn những loài "quái ngư" dưới sông Đà ? Bài viết hé lộ câu chuyện quái ngư và quy tắc "người vào, ma ra" trong ẩm thực xứ Mường.

"Cỗ lá" là mâm cỗ bày trên lá (thường là lá chuối). Người Mường đi đâu, về đâu, trong mọi cuộc hội hè, khi dọn mâm đãi khách, cỗ lá là điều không thể thiếu. Món đãi khách bày trên lá chuối xanh, nơi xôi đồ (xôi hấp), thịt lợn, rau rừng sum vầy. Trong mâm cỗ lá ấy, từ ngàn đời đã có một "ngôi chủ" được ưu ái, nâng niu nhiều nhất, chính là cá - món ngon mang hồn vía sông Đà, dân dã mà huyền thoại.

Đoạn đường về với xứ Mường, dường như ngày nào cũng gặp cỗ lá. Dù đã quen, đã say với những món ăn tươi nguyên hơi thở núi rừng, vẫn luôn có một điều khiến những kẻ phương xa chúng tôi phải reo lên thích thú, bởi vì cá!

Một mâm cá sông Đà với cá bống kho, cá ốt đồ, cá mầm nấu lá sắn muối chua. ẢNH: P.A