14 thg 9, 2022

Vẻ đẹp sông nước TP.HCM nhìn từ trên cao

Sông Sài Gòn cùng nhiều kênh rạch uốn lượn mềm mại như len lỏi bên trong những tòa nhà cao tầng, khiến những góc nhìn về thành phố từ trên cao vừa hùng vĩ, vừa nên thơ.

Con sông biểu tượng của TP.HCM dài 256 km, nhưng chỉ chảy qua địa phận thành phố này 80 km. Người Sài Gòn mỗi khi đi xa về, từ trên máy bay nhìn xuống, nếu thấy đỉnh chóp nhọn của tòa nhà sừng sững và dòng sông rộng lớn là biết mình sắp về đến nhà.

Bộ ảnh do nhiếp ảnh gia Nguyễn Minh Tú (TP.HCM) thực hiện.

Đêm xuống, khung cảnh như một bức tranh vẽ ra từ giấc mơ. Đường Tôn Đức Thắng, quận 1, nối quận 4 bằng cầu Khánh Hội kéo dài đến Bình Thạnh trông giống dải lụa nhỏ vắt qua thành phố, song song với dải lụa khổng lồ của dòng sông chảy cong về cuối chân trời

13 thg 9, 2022

Nước Min - Dấu xưa vang vọng

Lâu lắm rồi tôi mới trở lại thôn Nước Min, xã Sơn Mùa (Sơn Tây). Nước Min ngày trước im vắng lắm, thi thoảng mới nghe tiếng vrook, tiếng ru con trầm buồn vang vọng từ một vài mái nhà sàn. Bây giờ, Nước Min đã khác. Dấu xưa như đang vang vọng mỗi ngày.

Từ góc nhà sàn...

Nghệ nhân ưu tú Đinh Ka La chơi đàn ra-uốt.

Sông Kinh đôi bờ xanh biếc

Dòng sông Kinh lấy nước từ cửa Đại đổ về cửa Sa Kỳ, tạo thành một tuyến đường thủy dài hơn 7 km, dòng nước lững lờ trôi qua các xã Tịnh Khê, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ (TP.Quảng Ngãi). Sự tác động của con người vào địa hình tự nhiên đã hình thành nên một dòng sông vừa có cảnh quan thơ mộng, vừa mang đậm nét đặc thù trong cách ứng xử của người dân miền Trung với thiên nhiên vùng ven biển.

Dòng sông Kinh xưa và nay là bức tranh sông nước hữu tình. Dẫu vậy, với các bậc cao niên, dòng sông Kinh thuở trước vẫn luôn chảy tràn trong trí nhớ. Ông Trương Quang Thao (80 tuổi), ở thôn Mỹ Lại, xã Tịnh Khê (TP.Quảng Ngãi) cho biết, hơn nửa thế kỷ trở về trước, tuyến đường thủy sông Kinh khá nhộn nhịp, nhất là vào mùa mưa bão. Ghe thuyền chở đồ gốm Mỹ Thiện, cá chuồn muối, nước mắm, cá khô... từ cửa Sa Kỳ qua cửa Đại, rồi từ cửa Đại theo thuyền buồm ngược lên vùng đồng bằng các huyện Tư Nghĩa, Sơn Tịnh và đến vùng cao Sơn Hà. Ở chiều ngược lại, nậu buôn thuyền theo ghe mang hàng mỹ nghệ, dầu lửa, dầu rái từ bến Tam Thương trên sông Trà Khúc ra tận Sa Kỳ để bán ngược lên vùng đồng bằng và miền núi như Bình Sơn, Trà Bồng, một phần theo đường biển ra Cù Lao Ré (Lý Sơn).

Canh khổ qua nấu cá chuồn

Mùa này, chợ quê bán đủ các loại cá tươi rói, nhất là những con cá chuồn mắt trong veo, thịt rắn chắc. Cá chuồn nấu canh với khổ qua thì ngon phải biết. Cá chuồn có vị ngọt thanh, khổ qua đắng, nhưng khi kết hợp với nhau lại có món ăn lạ miệng, thơm ngon, bổ dưỡng.

Cá chuồn thường dùng để chế biến nhiều món ăn ngon như cá chuồn nấu canh chua, nấu cùng mít non, chiên giòn với củ nén… Để đổi vị cho gia đình, lại giúp giải nhiệt trong những ngày nắng nóng, bà tôi nấu cá chuồn với khổ qua.

Bát canh khổ qua dồn thịt cá chuồn xay thơm ngon. Ảnh: Hiền Thu

Câu cá trên non

Có lần, một cư dân núi Cấm (xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) rủ tôi: “Bữa nào rảnh, lên đây đi câu cá núi với tụi tui, bao vui, bao ngon!”. “Bữa nào rảnh”, chớp mắt là 10 năm sau. Nhưng đối với người miền xuôi như chúng tôi, cái vui, cái ngon thì vẫn vậy, vẫn đặc biệt vô cùng.


Chỉ khác, lần này chúng tôi chưa có dịp gặp lại người bạn cũ để thực hiện lời hẹn cũ. Mà lời hẹn ấy được thực hiện bởi những người bạn mới, cư dân mới đến núi Cấm lập nghiệp. Anh Sĩ (chủ một homestay) dặn chúng tôi đi men theo con suối Thanh Long, nhưng ở khu vực Ô Tứk Sa trên cao.

12 thg 9, 2022

Chùa Hang ở Trà Vinh

Theo lẽ thường, một ngôi chùa được gọi là chùa Hang nếu ngôi chùa đó nằm trong hang, hay trong khuôn viên chùa có (những) cái hang. Ấy vậy mà ở Trà Vinh có một ngôi chùa ai cũng kêu là chùa Hang mà chùa không hề nằm trong hang và đi khắp khuôn viên chùa cũng không thấy cái hang nào ráo trọi.

Sao kỳ vậy ta?

Là vầy: Chùa có tên (bằng tiếng Khmer, tất nhiên) là Kompong Chrây. Người Việt không quen đọc tiếng Khmer nên kêu là chùa Mồng Rầy. Kêu vậy cũng chưa thấy thuận miệng cho lắm, và thấy tam quan chùa được xây giống hình cái hang như vầy:


cho nên họ gọi là Chùa Hang cho tiện. Với lại cổng tam quan này nằm ngay mặt tiền quốc lộ 54 (đường Hai tháng Chín) nên để tiện nhận dạng người ta cứ nói đi ngoài lộ thấy cái hang là tới chùa Hang!

Mộc mạc suối Ô Đá

Men theo đường mòn dưới chân Ngọa Long Sơn, thị trấn Ba Chúc (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang), chúng tôi dễ dàng hỏi thăm người bản địa để được chỉ đường đến suối Ô Đá. Hoặc nếu để ý sẽ có những bảng chỉ dẫn viết tay đơn sơ đặt ở các đoạn cua.


Bắt đầu mùa mưa, suối Ô Đá- 1 trong 6 con suối ở vùng Bảy Núi được những người yêu thích du lịch tìm đến trải nghiệm. Vắt ngang đường lên suối là một nhánh suối nhỏ, nước trong vắt, mát lạnh.

Từ nơi đây đã có thể cảm nhận không khí trong trẻo của núi rừng, với chim hót, suối reo… Nước dưới chân núi không sâu, gặp mưa lớn chỉ ngập hơn mắc cá chân người lớn.

Chùa Nam Sơn Đà Nẵng: Tiên cảnh giữa chốn phồn hoa

Chùa Nam Sơn ở Cẩm Lệ, Đà Nẵng là một trong những điểm du lịch văn hóa, tâm linh được nhiều người dân địa phương và du khách yêu thích.

Tọa lạc tại thôn Cẩm Nam, xã Hòa Châu, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng, chùa Nam Sơn được xây dựng năm 1962 bởi công sức của phật tử Nguyễn Văn Châu và một số phật tử địa phương. Chùa có diện tích 10.000 mét vuông, được thiết kế bởi sư Đại Đức Thích Tuệ Phong, cũng chính là trụ trì hiện tại của ngôi chùa.


Lưng tựa vào dãy núi Trường Sơn, mặt hướng về Ngũ Hành Sơn, chùa Nam Sơn mang nét đẹp cổ kính, uy nghi tráng lệ.

Kơ-nia nơi Đảo Ngọc

Cây kơ-nia được mọi người biết đến như là một biểu trưng cho cảnh sắc và sức sống của người Tây Nguyên. Và nó cũng gần như mặc nhiên được coi là loài cây "đặc hữu" của khu vực này. Tuy nhiên, qua nhiều tư liệu cho biết, ở nước ta, kơ-nia còn được phân bổ rải rác đến đảo Phú Quốc giữa biển trời tận cùng Tây Nam Tổ quốc.

Cây kơ-nia trong vườn chùa Hùng Long. Ảnh: Văn Sỹ

Là người sinh sống lâu năm ở Kon Tum - Tây Nguyên, tự nhận mình là... "công dân kơ-nia", tôi quyết định đến Đảo Ngọc (một tên gọi khác của đảo Phú Quốc) để tìm hiểu và mục sở thị cho bằng được "linh vật" kơ-nia.

11 thg 9, 2022

Những danh thần trên đất An Giang

Bên cạnh công lao to lớn của Thống chế khâm sai thượng đạo đại tướng quân Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu), vùng đất An Giang “thuở mang gươm đi mở cõi” còn có đóng góp của nhiều danh tướng đã được triều đình phong hầu. Sự phát triển của tỉnh hôm nay còn lưu dấu nhiều hiền nhân thuở ấy.

Tượng danh thần Thoại Ngọc Hầu tại Trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu (TP. Long Xuyên)

Chinh phục vùng đất hoang vu

Việc thành lập tỉnh An Giang được xác định vào năm 1832, khi trấn Vĩnh Thanh được vua Minh Mạng chia thành tỉnh An Giang và Vĩnh Long. Tuy nhiên, vùng đất An Giang đã được khai phá từ trước, mà người có công khai mở đầu tiên là Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700), sinh tại vùng đất thuộc tỉnh Quảng Bình ngày nay.

Theo nghiên cứu của ThS Đỗ Thanh Nhàn (Trường Chính trị Tôn Đức Thắng), nhờ sớm hiển lộ tài thao lược, lập được nhiều chiến công từ khi còn rất trẻ nên mới khoảng 20 tuổi, Nguyễn Hữu Cảnh đã được chúa Nguyễn Phúc Tần phong giữ chức võ quan cấp cao là Cai cơ. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh được phong làm Thống suất, cử vào kinh lược xứ Đồng Nai (tên gọi chung cho toàn bộ vùng đất Nam Bộ hiện nay).

Dù đối diện với rất nhiều khó khăn ở vùng đất mới, nhưng ông thể hiện bản lĩnh thao lược: Vừa khẩn hoang, vừa mộ dân, mở đất, lập làng, bình định, thiết lập bộ máy quản lý, tổ chức hành chính, xác định biên cương, lãnh thổ, quy định các thứ thuế đinh điền và chỉ đạo phát triển kinh tế vùng đất mới. Nguyễn Hữu Cảnh còn có công lớn đánh dẹp giặc Chân Lạp do Nặc Thu cầm đầu, góp phần giữ gìn đất đai, bờ cõi và bảo vệ nhân dân.

ThS Đỗ Thanh Nhàn cho rằng, sinh thời của Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, tỉnh An Giang chưa thành lập. Tuy nhiên, công trạng của ông đối với Nam Bộ nói chung và tỉnh An Giang nói riêng rất to lớn. Nhiều làng mạc trên địa bàn An Giang ngày nay được hình thành dưới thời Nguyễn Hữu Cảnh.

Khoảng năm 1820-1828, Thoại Ngọc Hầu cho xây đình Châu Phú thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Ông là một trong những nhân vật lịch sử được tôn kính và thờ cúng nhiều nhất trong các đình thần ở An Giang. Tên ông được đặt cho tên đất (cù lao Ông Chưởng), tên trường học, tên đường… ở An Giang.

Xây dựng vùng đất mới

Ngay trước khi tỉnh An Giang được thành lập, vùng đất này đã ghi dấu công lao của Thư Ngọc hầu Nguyễn Văn Thư (hiện chưa rõ năm sinh), người sinh ra và lớn lên ở cù lao Giêng (huyện Chợ Mới ngày nay). Ông theo Tiền quân Tôn Thất Hội đi đánh giặc, từng chức Phó tướng Tiền quân Khâm sai Tổng nhung cai cơ.

Tháng 5/1794, ông và các em tử chiến trong trận đánh ở cửa biển Thị Nại. Sau khi lên ngôi vua, Gia Long ghi nhận công lao to lớn của ông và các em, truy phong cho Nguyễn Văn Thư là Đặc Tiến Phụ Quốc, Thượng Tướng Quân, Thượng Trụ Quốc, Khâm sai Chưởng dinh Thư Ngọc hầu, được liệt thờ ở miếu Trung Hưng.

Thư Ngọc hầu Nguyễn Văn Thư là người được triều Nguyễn phong tước hầu sớm nhất trong các vị được phong hầu ở Tây Nam Bộ. Công lao chính của ông là tham gia chiến trận, đánh tan tàn quân Xiêm để bảo vệ nhân dân, phò Nguyễn Ánh, góp công lớn vào dựng lập nhà Nguyễn. Gia đình ông cũng có công khẩn hoang, mở đất, tiêu trừ thú dữ, bảo vệ thôn dân.

Lăng của ông và 2 người em hiện ở cù lao Giêng, trong khu vườn của dòng tộc, được nhân dân trong vùng tôn gọi là Lăng Ba Quan Thượng Đẳng; phủ thờ các ông cũng được lập gần lăng, gọi là Dinh Ba quan thượng đẳng. Nhân dân quanh năm hương khói phụng thờ.

Trước khi tỉnh An Giang được thành lập, vùng đất này đặc biệt ghi dấu ấn công lao của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại (1761-1829), người có công chỉ huy đào kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế và để lại nhiều công trình có giá trị đến ngày nay.

Cùng thời với Thoại Ngọc Hầu, còn có Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên (1763-1831). Ông tên thật là Phan Văn Tuyên, vì có công nên được vua Nguyễn ban cho quốc tính. Năm 1788, khi 25 tuổi, ông đầu quân theo phò chúa Nguyễn Phúc Ánh. Với võ công giỏi, tài điều binh, ông lập nhiều công trạng, lần lượt được phong giữ các chức: Thần sách quân hổ oai vệ úy, Chấn võ quân nhất bảo vệ úy, Khâm sai Chưởng cơ (1802), Thống chế (1816).

Năm 1822, ông được giao trấn thủ Biên Hòa rồi trấn thủ Định Tường kiêm Khâm sai thuộc nội chưởng cơ. Sau đó, được bổ nhiệm làm trấn thủ Vĩnh Thanh. Khi Tả quân Lê Văn Duyệt có việc về kinh đô Huế, ông được cử quyền nhiếp chính Tổng trấn Gia Định thành.

Năm 1829, sau khi Thoại Ngọc Hầu lâm trọng bệnh và mất, Nguyễn Văn Tuyên được cử thay thế, sắc phong nguyên chức là “Thống chế cai quản biền binh, Bảo Hộ Cao Miên quốc ấn, kiêm án thủ Châu Đốc đồn kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ”, nên còn có tên là Bảo Hộ Tuyên.

Trong vai trò Phó Đổng lý trực tiếp, Trấn thủ Định Tường, Trấn thủ Vĩnh Thanh, Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên là người cùng với Thoại Ngọc Hầu huy động dân binh và chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế. Sau khi Thoại Ngọc Hầu mất, ông là người kế tiếp công việc, làm trấn thủ Vĩnh Thanh, Án thủ Châu Đốc, bảo hộ Cao Miên. Công trạng của ông đối với Nam Bộ nói chung, tỉnh An Giang nói riêng là doanh điền khẩn hoang, mở đất lập làng, trấn thủ bảo vệ bờ cõi, khẳng định chủ quyền lãnh thổ, phát triển giao thông, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp - thương nghiệp…

“Trong quá trình mở mang, xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng, có công lao đóng góp rất lớn của những danh thần lương tướng thời phong kiến - giai đoạn đầu của công cuộc mở mang bờ cõi. Các vị hầu này đã góp phần khai mở đất đai, chiêu mộ an dân, phát triển sản xuất, bảo vệ bờ cõi, trở thành danh nhân tiêu biểu trong lịch sử. Các vị hầu không chỉ được triều đình tôn vinh, mà quan trọng hơn, đã sống mãi trong niềm tôn kính, tri ân của nhân dân An Giang” - ThS Đỗ Thanh Nhàn đúc kết.

NGÔ CHUẨN