29 thg 1, 2026
Bảo vật quốc gia ở chùa Giám
Cửu phẩm Liên hoa ở chùa Giám, xã Cẩm Giang (Hải Phòng) được nhiều người biết đến không chỉ là một cối kinh Phật mà còn là tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của kiến trúc dân gian.
Cổ kính đình làng Phong Lâm
Giữa không gian làng quê yên ả, đình Phong Lâm (xã Gia Phúc, Hải Phòng) toát lên vẻ trầm mặc với mái ngói rêu phong, hàng cột gỗ lim vững chãi và những đường chạm khắc tinh xảo.
Đình Phong Lâm được khởi dựng từ khá sớm, ban đầu có quy mô nhỏ, đến thời Nguyễn xây dựng lại khang trang. Văn bia hiện còn tại di tích cho biết vào các năm Kỷ Mùi (1859), Thành Thái 5 (1893) và Hoàng triều Duy Tân (1907 - 1916), nhiều người dân trong làng đóng góp tiền, ruộng trùng tu ngôi đình.
7 tấm bia cổ được lưu giữ tại đình Phong Lâm.
Đình Phong Lâm được khởi dựng từ khá sớm, ban đầu có quy mô nhỏ, đến thời Nguyễn xây dựng lại khang trang. Văn bia hiện còn tại di tích cho biết vào các năm Kỷ Mùi (1859), Thành Thái 5 (1893) và Hoàng triều Duy Tân (1907 - 1916), nhiều người dân trong làng đóng góp tiền, ruộng trùng tu ngôi đình.
28 thg 1, 2026
Tấm bia đá trên lưng rùa ở chùa Gò Kén
Bước vào chùa Gò Kén, ta sẽ thấy ngay trong sân chùa trước chánh điện một con rùa mang bia đá trên lưng.
Quả bầu khô và ẩm thực Tây Nguyên
Nếu cây lúa rẫy là nguồn lương thực chủ lực của đồng bào miền núi, thì các loại bầu, bí, dưa, cà… lại là nguồn thực phẩm thiết yếu gắn bó với đời sống hằng ngày. Trong đó, quả bầu không chỉ được dùng làm món ăn mà còn mang nhiều công dụng trong sinh hoạt và đặc biệt giữ vị trí quan trọng trong văn hóa ẩm thực của hầu hết các dân tộc ở dãy Trường Sơn - Tây Nguyên.
Cúng vía bếp - Nghi lễ quan trọng của người Mường
Nằm trong chuỗi hoạt động tháng “Tết bản làng” trong tháng 1 tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, TP. Hà Nội), đồng bào dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ vừa tổ chức tái hiện tục cúng vía bếp - một trong những nghi lễ dân gian quan trọng, mang đậm yếu tố tâm linh trong đời sống tinh thần của người Mường.
Tục cúng vía cho bếp (Khồông bếp) là nghi lễ quan trọng khi sửa bếp của người Mường. Đây không chỉ đơn giản là việc sửa sang lại nơi nấu nướng, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc bởi người Mường coi bếp lửa như linh hồn của ngôi nhà, bảo vệ gia đình, mang lại sự ấm no, thịnh vượng và xua đuổi tà khí.
Mâm cúng vía bếp của đồng bào Mường
Tục cúng vía cho bếp (Khồông bếp) là nghi lễ quan trọng khi sửa bếp của người Mường. Đây không chỉ đơn giản là việc sửa sang lại nơi nấu nướng, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc bởi người Mường coi bếp lửa như linh hồn của ngôi nhà, bảo vệ gia đình, mang lại sự ấm no, thịnh vượng và xua đuổi tà khí.
Xăng Khan đậm bản sắc văn hóa đồng bào Thái
Lễ Xăng Khan là một nghi lễ tín ngưỡng dân gian đặc sắc của đồng bào dân tộc Thái ở miền Tây Nghệ An. Với người Thái, đây không chỉ là một lễ hội mà chính là không gian văn hóa để con người bày tỏ lòng biết ơn thần linh, tổ tiên và tri ân những người làm nghề mo.
Theo các già làng và thầy mo, Lễ hội Xăng Khan đã tồn tại từ rất lâu đời, khi đất trời còn hoang sơ thì Xăng Khan đã hiện hữu trong đời sống cộng đồng người Thái. Lễ hội gắn chặt với lịch sử hình thành bản làng và sự phát triển của đồng bào Thái ở xứ Nghệ.
Theo các già làng và thầy mo, Lễ hội Xăng Khan đã tồn tại từ rất lâu đời, khi đất trời còn hoang sơ thì Xăng Khan đã hiện hữu trong đời sống cộng đồng người Thái. Lễ hội gắn chặt với lịch sử hình thành bản làng và sự phát triển của đồng bào Thái ở xứ Nghệ.
27 thg 1, 2026
Thung Nham - Xứ sở chim trời giữa lòng di sản Ninh Bình
Vào mùa cao điểm sinh sản, từ tháng 8 đến tháng 4 âm lịch, số lượng chim
tại Vườn chim Thung Nham lên tới hàng chục nghìn cá thể. Ảnh: Thùy Dung
- TTXVN
Nằm trong Khu du lịch sinh thái Thung Nham, thuộc phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Vườn chim Thung Nham không chỉ là một điểm đến hấp dẫn mà còn là "lá phổi xanh", là minh chứng sống động cho sự đa dạng sinh học của vùng đất này. Được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An nay càng thêm phần phong phú với sự hiện diện của một trong những vườn chim tự nhiên lớn nhất miền Bắc.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Khởi nghĩa Hương Khê và thủ lĩnh Phan Đình Phùng
Phan Đình Phùng, hiệu Châu Phong, tự Tôn Cát, sinh năm 1847 tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, H.La Sơn, phủ Đức Thọ (nay thuộc xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) trong một gia đình nổi tiếng thi thư, có tới mười hai đời nối nhau đỗ đạt và ra làm quan.
Một người cương trực
Năm 29 tuổi (1876), Phan Đình Phùng thi đỗ cử nhân khoa Bính Tý, năm sau (1877) đỗ Tiến sĩ.
Phan Đình Phùng ra làm quan, nhanh chóng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng. Do đức tính liêm khiết và cương trực, ông được vua Tự Đức cho giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, một vị trí có quyền chỉ trích các quan lại đồng liêu, dẫn đến việc loại bỏ được nhiều kẻ bất tài, tham nhũng. Vua Tự Đức đã từng khen ngợi: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được).
Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.
Một người cương trực
Năm 29 tuổi (1876), Phan Đình Phùng thi đỗ cử nhân khoa Bính Tý, năm sau (1877) đỗ Tiến sĩ.
Phan Đình Phùng ra làm quan, nhanh chóng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng. Do đức tính liêm khiết và cương trực, ông được vua Tự Đức cho giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, một vị trí có quyền chỉ trích các quan lại đồng liêu, dẫn đến việc loại bỏ được nhiều kẻ bất tài, tham nhũng. Vua Tự Đức đã từng khen ngợi: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được).
Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Hoàng Đình Kinh - thủ lĩnh Tày kiên cường
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, thủ lĩnh người Tày Hoàng Đình Kinh chọn núi Tinh Lãng (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) làm căn cứ chính cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Nơi này có địa thế hiểm trở, thuận lợi cho phòng thủ và tổ chức lực lượng kháng chiến lâu dài.
Hoàng Đình Kinh (còn gọi là Cai Kinh), người dân tộc Tày, sinh năm 1830 tại xã Hòa Lạc, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Hoàng Đình Khoa, làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông thay cha làm cai tổng nên còn có tên gọi là Cai Kinh.
Hoàng Đình Kinh (còn gọi là Cai Kinh), người dân tộc Tày, sinh năm 1830 tại xã Hòa Lạc, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Hoàng Đình Khoa, làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông thay cha làm cai tổng nên còn có tên gọi là Cai Kinh.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Nguyễn Duy Hiệu và Nghĩa hội Quảng Nam
Nghĩa hội hình thành
Trần Văn Dư húy Tự Dư, thụy Hoán Nhược, sinh năm Kỷ Hợi (1839) tại làng An Mỹ Tây, H.Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay thuộc xã Tây Hồ, TP.Đà Nẵng), trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ (1858), đỗ Cử nhân ân khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875).
Cuối năm Quý Mùi (1884), Trần Văn Dư được điều về Quảng Nam giữ chức Sơn phòng sứ. Sơn Phòng là một tổ chức quân sự đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và kiểm soát các vùng biên giới, miền núi hiểm trở của đất nước. Vì vậy, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (tháng 7.1885), triều đình do Hoàng Thái hậu Từ Dụ nhiếp chính có xu hướng hòa hoãn với Pháp, nhận thấy việc Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ là điều bất lợi nên ra dụ điều chuyển ông vào làm Bố chính sứ Bình Thuận và cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu lên thay. Trần Văn Dư khước từ không nhận chỉ dụ, tuy vẫn bàn giao chức vụ, rồi bỏ về quê, không hợp tác với triều đình.
Trần Văn Dư húy Tự Dư, thụy Hoán Nhược, sinh năm Kỷ Hợi (1839) tại làng An Mỹ Tây, H.Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay thuộc xã Tây Hồ, TP.Đà Nẵng), trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ (1858), đỗ Cử nhân ân khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875).
Chân dung Nguyễn Duy Hiệu. Ảnh: T.L
Cuối năm Quý Mùi (1884), Trần Văn Dư được điều về Quảng Nam giữ chức Sơn phòng sứ. Sơn Phòng là một tổ chức quân sự đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và kiểm soát các vùng biên giới, miền núi hiểm trở của đất nước. Vì vậy, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (tháng 7.1885), triều đình do Hoàng Thái hậu Từ Dụ nhiếp chính có xu hướng hòa hoãn với Pháp, nhận thấy việc Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ là điều bất lợi nên ra dụ điều chuyển ông vào làm Bố chính sứ Bình Thuận và cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu lên thay. Trần Văn Dư khước từ không nhận chỉ dụ, tuy vẫn bàn giao chức vụ, rồi bỏ về quê, không hợp tác với triều đình.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)









