23 thg 2, 2026

Mật ngữ 200 năm tuổi của ngôi làng ngoại thành Hà Nội

Ngoài tiếng phổ thông, người làng Đa Chất, xã Đại Xuyên (huyện Phú Xuyên cũ) có một ngôn ngữ riêng với hàng nghìn từ lóng từng giúp giữ bí mật nghề đóng cối tre.

Bên dòng sông Nhuệ, những quán nước ở làng Đa Chất, xã Đại Xuyên thi thoảng lại vang lên những cuộc hội thoại lạ lẫm. Người lạ nghe cảm giác như "tiếng nước ngoài", nhưng lại phát ra từ những nông dân thuần hậu. Đó là "Tõi Xưỡn" - thứ tiếng lóng độc nhất vô nhị của vùng đất này.

"Dân làng tôi không học sách vở, chỉ truyền khẩu để giữ nếp", ông Nguyễn Văn Nghinh, 67 tuổi, một trong những người thạo "Tõi Xưỡn" nhất làng, mở đầu câu chuyện. Thứ tiếng này ngấm vào máu thịt ông từ thuở bé, khi theo cha chú đi đóng cối khắp các tỉnh phía Bắc.

Ông Nguyễn Văn Phường, 66 tuổi, người làng Đa Chất đang đọc sách tài liệu về ngôn ngữ của làng, tháng 1/2026. Ảnh: Quỳnh Nguyễn

Tiếng lóng của làng Đa Chất sinh ra từ nghề đóng cối tre xay thóc lúa. Đầu thế kỷ 19, thợ làng lặn lội lên Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái hành nghề. Mỗi chuyến đi thường kéo dài vài tháng, mỗi đội chỉ có một "phó cả" và một "phó hai" đi cùng nhau. Nơi đất khách, để bảo vệ bí mật kỹ thuật và an toàn cho nhau, các tốp thợ sáng tạo ra hệ thống giao tiếp riêng.

Trong xưởng nồng mùi tre nứa, tiếng lóng là tín hiệu ngầm. Thấy thợ phụ làm sai, thợ cả nhắc: "Mày xấn táo rồi, bệt ngáo kìa" (Mày làm lỗi rồi, chủ nhà đang nhìn đấy). Câu nói vừa chỉnh đốn công việc, vừa giữ thể diện cho thợ trước mặt gia chủ, lại giúp họ bàn bạc giá cả mà không gây hiểu lầm.

Với ông Nghinh, tiếng lóng còn là tín hiệu nhận biết đồng hương. "Lang bạt tứ xứ, nghe ai nói tiếng này là biết ngay là người làng mình, thân thuộc như ruột thịt", ông Nghinh kể.

Tuy nhiên quy ước ngầm của người dân Đa Chất là chỉ dùng tiếng lóng cho công việc hoặc chuyện tế nhị, tuyệt đối không dùng để châm chọc hay làm điều khuất tất.

Từ xưởng gỗ, tiếng lóng len lỏi vào đời sống, trở thành một "màng lọc" văn hóa giúp lời ăn tiếng nói nhẹ nhàng hơn. Ví dụ, phát hiện kẻ gian móc túi chốn đông người, dân làng hô: "Đồi ỏn ngáo bái" (Cẩn thận cái túi, đề phòng kẻ gian). Khách đến chơi, người chồng dặn vợ: "Xì nhát sẩn du tớp sườn tóp đồ dồ" (Em lấy xe đi chợ mua thức ăn đãi khách). Ngay cả việc dạy con cũng trở nên ý nhị: "Dươi xì xuộm. Gành thít thu" (Chào các cụ, lấy nước mời khách đi con).

Ông Nguyễn Văn Phường, 66 tuổi, cho biết "Tõi Xưỡn" mượn ngữ pháp tiếng Việt nhưng thay thế bằng hệ từ vựng riêng như "choáng" là đẹp, nhà đẹp là "bệt choáng", gái xinh là "nhát choáng". Động từ "xấn" (dùng sức) biến hóa linh hoạt: xấn vụ (đóng cối), xấn đìa (làm ruộng). Hệ số đếm cũng riêng biệt: nhất, nhị, thâm, chớ, dâu, lạp. Ngày nay, người Đa Chất cũng tự sáng tạo từ mới cho hợp thời: sưỡn mố (xe máy), sưỡn nhật (đồng hồ), sưỡn xì thiên (máy bay).

Một điểm kỳ lạ khiến tiếng lóng Đa Chất trở nên huyền bí chính là giới hạn về địa lý. Ông Trần Văn Huynh, 68 tuổi, khẳng định chỉ người gốc làng mới nói và hiểu nhuần nhuyễn. "Con gái đi lấy chồng xứ khác một thời gian cũng quên. Người làng bên dù sống sát vách cũng không giải mã được", ông nói.

Chính đặc tính nội bộ này biến tiếng lóng thành tấm khiên bảo vệ bản sắc Đa Chất suốt hai thế kỷ.

Nhưng tấm khiên ấy đang mỏng dần trước thời gian. Từ đầu những năm 2000, máy xay xát công nghiệp xuất hiện, khai tử nghề đóng cối tre thủ công. Môi trường sống của "Tõi Xưỡn" thu hẹp lại.

"Mất nghề chỉ sợ mất tiếng", Trưởng thôn Nguyễn Văn Tuyên trăn trở. Trong 1.500 nhân khẩu, hiện chỉ còn khoảng 40% người nói thạo, đa phần trên 50 tuổi. Hiện các cụ cao niên vẫn ghi nhớ thứ tiếng này, tuy nhiên nhiều người sức khỏe yếu, hạn chế đi lại và giao tiếp khiến môi trường sử dụng bị thu hẹp. Lớp trẻ đi học, đi làm xa, dù nghe hiểu nhưng không còn mặn mà sử dụng.

"Tiếng lóng vốn là ngôn ngữ truyền khẩu, nếu không có môi trường giao tiếp thực tế, việc học qua sách vở chỉ như ‘cưỡi ngựa xem hoa’", ông Tuyên nói.

Trưởng thôn cùng một số người dân làng Đa Chất đang giao tiếp bằng tiếng lóng trong buổi gặp ở đình làng. Ảnh: Nga Thanh

Nhận thấy nguy cơ thất truyền, năm 2006, Bộ Văn hóa Thông tin đã mời các cao niên trong làng sưu tầm, tập hợp từ vựng để in sách. Cuốn "Văn hóa dân gian làng Đa Chất" xuất bản năm 2007 ghi lại cách phát âm của hơn 200 từ lóng. Đến năm 2016, "Tõi Xưỡn" của làng Đa Chất được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể của Hà Nội.

Theo phiếu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể được xã cập nhật cuối năm 2025, tiếng lóng Đa Chất có nguồn gốc từ đầu thế kỷ 19, cùng thời kỳ phát triển nghề đóng cối xay lúa được nêu trong sách Đại Nam nhất thống chí.

Ban đầu là các thuật ngữ miêu tả hoạt động nghề nghiệp, sau đó lan rộng sang mọi mặt đời sống. Các chuyên gia ngôn ngữ và Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội đã nhiều lần khảo sát, đánh giá đây là di sản quý hiếm, mang giá trị lịch sử cao và duy nhất tại Việt Nam.

Một số từ phiên âm trong sách tài liệu về ngôn ngữ tiếng lóng làng Đa Chất. Ảnh: Quỳnh Nguyễn

Với những người như ông Nghinh, ông Phường, tiếng lóng không chỉ là phương thức giao tiếp. "Giữa nhịp sống hối hả, những câu chào hỏi ‘Nhát choáng’ hay lời dặn ‘Đồi ỏn’ vẫn vang lên như lời nhắc nhở về một vùng di sản quý hiếm bậc nhất Thủ đô", ông Nghinh nói.

Quỳnh Nguyễn - Nga Thanh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét