Chim phượng
Cây mang tên chim được nhắc đến nhiều nhất có lẽ là loài cây mang tên một loài chim không có thật: Chim Phượng.
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18,
Cùng mang tên phượng còn có Kim phượng. Cây này còn có các tên gọi khác là điệp, điệp ta, điệp vàng, điệp cúng. Tên khoa học là Caesalpinia pulcherrima. Nhìn bề ngoài, kim phượng khá giống với cây phượng vĩ, nhưng kim phượng thuộc loại cây bụi (tiểu mộc) có chiều cao tới 3 met trong khi phượng vĩ là đại mộc có chiều cao lên tới 10 - 15 met, có khi tới 20 met.
Một loài hoa phượng khác, được du nhập vào Việt Nam gần đây, đó là Phượng tím. Ở Việt Nam, phượng tím là loài hoa hiếm. Dường như người ta chỉ tìm thấy nó ở Đà Lạt. Điều thú vị là mặc dù cùng mang tên phượng nhưng phượng tím chẳng bà con họ hàng gì với phượng vĩ hết. Hoa không giống, nở mùa xuân chớ không phải mùa hè, tên và họ hàng khoa học lại càng xa cách. Phượng tím có tên khoa học là Jacaranda thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae).
Thứ duy nhất khiến cho ai đó đặt tên phượng tím là phượng chính là bộ lá. Cả hai cây đều có kiểu lá phức lông chim kép hai lần, nhìn những chiếc lá nhỏ li ti xếp đối xứng nhau trông rất giống lông chim phượng hoàng. Khi mang Jacaranda về trồng, người ta thấy lá của nó giống hệt lá cây phượng vĩ sẵn có ở Việt Nam, nhưng hoa lại màu tím, nên đặt tên là Phượng tím để dễ hình dung.
Thiên điểu - Hoàng yến - Họa mi
Gọi tên là Muồng hoàng yến vì hoa nở trổ thành từng chùm rủ xuống có màu vàng tươi óng ả như màu lông của chim hoàng yến. Gọi tên là Bò cạp vì nhụy hoa cong vút lên trông giống đuôi con bò cạp. Gọi tên Hoa lồng đèn/Mai dây dựa trên dáng chùm hoa rủ xuống. Còn tên khoa học của cây là Cassia fistula L. thuộc phân họ Vang của họ Đậu (Fabaceae).
Sau chim hoàng yến là chim họa mi, với một loài cúc có tên cúc họa mi. Cúc Họa Mi còn được gọi là hoa cúc Marguerite, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Đây là loài hoa hay mọc dại ven những con đường hay ở các cánh đồng với vẻ ngoài bé nhỏ, mong manh nhưng tràn đầy sức sống.
Cúc có thân vươn lên cao, cành nhánh phân nhiều, những nụ hoa nhỏ mọc ra từ đầu cành. Hoa nhỏ, xinh xắn, đường kính khoảng 3 - 4 cm, có nhiều màu sắc như: trắng, hồng, vàng, đỏ… nhưng loại phổ biến nhất là cánh hoa màu trắng.
Cây mang tên chim được nhắc đến nhiều nhất có lẽ là loài cây mang tên một loài chim không có thật: Chim Phượng.
Loài hoa có hình dáng và tên là đuôi con chim phượng được nhắc đến rất nhiều trong, thơ, văn, nhạc:
Kim phượng. Ảnh: tracuuduoclieu.vn
Kim phượng. Ảnh: Wikipedia
Thứ duy nhất khiến cho ai đó đặt tên phượng tím là phượng chính là bộ lá. Cả hai cây đều có kiểu lá phức lông chim kép hai lần, nhìn những chiếc lá nhỏ li ti xếp đối xứng nhau trông rất giống lông chim phượng hoàng. Khi mang Jacaranda về trồng, người ta thấy lá của nó giống hệt lá cây phượng vĩ sẵn có ở Việt Nam, nhưng hoa lại màu tím, nên đặt tên là Phượng tím để dễ hình dung.
Phượng tím ở ga Đà Lạt. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Phượng tím ở khách sạn Le Petit Paris, Đà Lạt. Ảnh: Phạm Hoài Nhân
Một loài hoa khác cũng muốn được chen chân vô đây, đó là Sò đo cam. Cây này trồng trên đường phố được người dân gọi là Phượng hoàng lửa, nó còn có tên khác là Chuông Đỏ, Đỉnh Phượng Hoàng. Tên khoa học của cây là Spathodea campanulata, thuộc họ Núc Nác. Sò đo cam được trồng rộng rãi làm cây cảnh khắp vùng nhiệt đới và được nhiều đánh giá cao do hoa hình chuông màu đỏ cam rất sặc sỡ của nó.
Chuyển sang một loại hoa mang tên chim khác, cũng là loài chim huyền thoại. Đó là hoa thiên điểu, còn gọi là hoa chim thiên đường (theo tên tiếng Anh Bird of Paradise). Có tên như vậy do hoa có hình dáng độc đáo, trông giống như đầu của một chú chim kiêu sa đang sải cánh hướng về phía mặt trời.
Hoa thiên điểu có tên khoa học là Strelitzia reginae, thuộc chi Thiên điểu, họ Chuối rẻ quạt.
Chuyển sang một loài chim đẹp, có thật. Đó là chim hoàng yến, trong tên hoa Muồng hoàng yến. Hoa này còn có rất nhiều tên: muồng hoàng hậu, hoa lồng đèn, bò cạp nước, bò cạp vàng, mai dây, mai hoàng hậu, cây xuân muộn hoặc mai nở muộn. Có khi người ta còn gọi nó là hoa Osaka hay Osaka hoa vàng (chắc nghe cho giống... hàng nhập từ Nhật Bản!).
Gọi tên là Muồng hoàng yến vì hoa nở trổ thành từng chùm rủ xuống có màu vàng tươi óng ả như màu lông của chim hoàng yến. Gọi tên là Bò cạp vì nhụy hoa cong vút lên trông giống đuôi con bò cạp. Gọi tên Hoa lồng đèn/Mai dây dựa trên dáng chùm hoa rủ xuống. Còn tên khoa học của cây là Cassia fistula L. thuộc phân họ Vang của họ Đậu (Fabaceae).
Hoa muồng hoàng yến. Ảnh: Wikipedia
Sau chim hoàng yến là chim họa mi, với một loài cúc có tên cúc họa mi. Cúc Họa Mi còn được gọi là hoa cúc Marguerite, thuộc họ Cúc (Asteraceae). Đây là loài hoa hay mọc dại ven những con đường hay ở các cánh đồng với vẻ ngoài bé nhỏ, mong manh nhưng tràn đầy sức sống.
Cúc có thân vươn lên cao, cành nhánh phân nhiều, những nụ hoa nhỏ mọc ra từ đầu cành. Hoa nhỏ, xinh xắn, đường kính khoảng 3 - 4 cm, có nhiều màu sắc như: trắng, hồng, vàng, đỏ… nhưng loại phổ biến nhất là cánh hoa màu trắng.
Ở trên ta thấy đều là tên những loài chim đẹp (hoặc hót hay) được đặt cho các loài hoa, giờ ta chuyển sang tên những loài chim không đẹp và đặt cho những loại thực vật không phải là hoa.
Trước tiên là cây bìm bịp. Cây bìm bịp được đặt tên này không phải vì nó giống con chim bìm bịp, mà vì theo kinh nghiệm thợ rừng, khi chim bìm bịp con bị gãy chân, chim mẹ thường hái lá cây này nhai đắp vào giúp xương bìm bịp con mau lành. Tương tự như vậy, bộ đội ở rừng thấy khỉ bị gãy xương cũng hái lá cây nhai đắp vào chỗ xương gãy cho liền xương nên gọi là cây xương khỉ. Ngay cả đối với người, cây bìm bịp cũng có tác dụng hỗ trợ xương khớp (giảm đau nhức, hỗ trợ điều trị bong gân, gãy xương và giúp kích thích tái tạo xương). Chính tui cũng đã từng lá bìm bịp sắc nước uống để trị đau nhức và có trồng cây này ở nhà để khi cần thì dùng.
Cây bìm bịp. Ảnh: caythuoc.org
Cây bìm bịp còn có tên là xương khỉ, mảnh cộng, ưu độn thảo. Tên khoa học là Clinacanthus nutans, thuộc họ Ô rô. Đây là một loại cây thân thảo nhỏ, mọc thành bụi với chiều cao trung bình từ 1m – 1.5m, hoa có màu hồng, đỏ hoặc tím đặc trưng.
Một cây có tên chim khác cũng dùng làm dược liệu là cây kiến cò. Cây kiến cò
còn được gọi là cây bạch hạc, cây lác, hay thuốc lá nhỏ, có tên khoa học là Rhinacanthus nasutus, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae). Đây là một loại cây bụi nhỏ, cao khoảng 1–2 mét, nổi bật với cụm hoa màu trắng tinh khôi có hình dáng giống như một con chim cò (hoặc hạc) trắng đang sải cánh.
Cây kiến cò được dùng nhiều trong điều trị một số bệnh lý thường gặp như tiểu đường, hắc lào (do đó có tên là cây lác), cao huyết áp hay ghẻ, eczema...
còn được gọi là cây bạch hạc, cây lác, hay thuốc lá nhỏ, có tên khoa học là Rhinacanthus nasutus, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae). Đây là một loại cây bụi nhỏ, cao khoảng 1–2 mét, nổi bật với cụm hoa màu trắng tinh khôi có hình dáng giống như một con chim cò (hoặc hạc) trắng đang sải cánh.
Cây kiến cò được dùng nhiều trong điều trị một số bệnh lý thường gặp như tiểu đường, hắc lào (do đó có tên là cây lác), cao huyết áp hay ghẻ, eczema...
Cây kiến cò. Ảnh: Nhà thuốc Long Châu
Cây cứt quạ có tên khoa học là Gymnopetalum Chinense, họ Cucurbitaceae, dạng thân bò.
Phần lá và rễ của cây cứt quạ có mặt trong khá nhiều bài thuốc trị bệnh
Chuyển sang hình dạng lá, ta có cây đuôi công. Cây đuôi công có tên khoa học là Calathea makoyana, họ Marantaceae, là một trong những loại cây kiểng lá được ưa chuộng nhờ vẻ đẹp sặc sỡ và độc đáo.
Ta chuyển sang một trường hợp khá thú vị là những loài trái cây mang tên sẻ.
Người Việt có thói quen ví von các loại trái có kích thước nhỏ so với trái cùng loài với chim sẻ - loài chim quen thuộc, gần gũi và có kích thước nhỏ nhắn trong các loài chim quanh nhà.
Chữ sẻ ở đây có thể chỉ một giống trái cây nhỏ hơn các giống khác cùng loài, nhưng đôi khi cũng chỉ trái nhỏ hơn trong loạt trái.
Một vài thí dụ:
Chuối sẻ: Trái chuối ngắn, nhỏ xíu, vỏ mỏng, khi chín ăn rất thơm và ngọt đậm đà.
Măng cầu sẻ (Mãng cầu ta/Na sẻ): Trái nhỏ hơn măng cầu dai/măng cầu bơ thông thường, mắt nhỏ, dai ngọt và nhiều hạt.
Sầu riêng sẻ: Giống sầu riêng cổ xưa (thường là sầu riêng vườn hạt lép/sầu riêng gieo hạt), trái chỉ nhỏ bằng nắm tay hoặc trái dừa nhỏ, cơm vàng, béo ngậy.
Bưởi sẻ: Trái bưởi nhỏ xinh, vỏ mỏng, múi róc và ngọt mọng nước.
Quýt sẻ/Cam sẻ: Trái nhỏ, vỏ mỏng dính, khi chín có hương thơm rất nồng.
Vì chữ sẻ được dùng phổ biến quá nên tui không biết trong trường hợp nào nó chỉ một giống trái cây riêng biệt, tuy nhiên tui biết chắc một trường hợp sẻ chỉ một giống trái cây khác với trái cùng tên. Đó là ổi sẻ.
Ổi sẻ. Ảnh: Eva.vn
Trái ổi sẻ rất nhỏ, đường kính chỉ khoảng 2 – 3 cm (to bằng đầu ngón tay cái hoặc ngón chân cái). Khi chín, vỏ chuyển từ xanh đậm sang vàng chanh, thịt giòn ngọt, ruột thường có màu hồng hoặc trắng, chứa nhiều hạt cứng. Điểm độc đáo nhất là hương thơm vô cùng quyến rũ, đậm đà bám lâu trên tay khi cầm.
Theo Wikipedia, Ổi sẻ có tên khoa học: Psidium cattleianum, thuộc họ Đào kim nương (Myrtaceae).
Rất nhiều loài lan mang tên chim
Thế giới phong lan (Orchidaceae) được ví như một "vương quốc mô phỏng" trong tự nhiên, và nhóm thực vật này có số lượng loài mang tên và hình dáng liên quan đến các loài chim nhiều vượt trội so với hầu hết các họ thực vật khác.
Có thể kể sơ qua:
Lan Bạch Hạc (tên khoa học là Pecteilis radiata hoặc dòng địa lan Thunia) là một loài hoa lan độc đáo, nổi bật với hình dáng bông hoa trắng muốt trông tựa như một đàn chim hạc đang cất cánh bay.
Lan bạch hạc. Ảnh: Wikipedia
Lan hồ điệp cánh én: Là kiểu dáng hoặc dòng hoa lan hồ điệp có cánh hoa xòe rộng nhìn giống cánh én mùa xuân.
Lan hồ điệp cánh én. Ảnh: lanhodiep.vn
Lan Hạc Vỹ/Lan Hạc Trắng (Dendrobium aphyllum hoặc Habenaria): Những chùm hoa mọc rủ xuống, cánh hoa trắng muốt vươn dài thanh thoát hệt như dáng những chú chim hạc đang tung cánh bay.
Lan Bồ Câu (Peristeria elata - Dove Orchid/Holy Ghost Orchid): Loài lan quốc hoa của Panama. Cấu trúc bên trong nhụy hoa có hình dáng trắng muốt, tinh xảo giống hệt một con chim bồ câu đang đậu khép cánh nghỉ ngơi.
Phạm Hoài Nhân
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét