2 thg 6, 2026

Chạy quanh chạy quéo... cũng đồng Ba La

Cách đây mấy hôm, khi tôi chở mẹ tôi đi qua ngã tư Ba La, bà chợt nhắc lại câu ca dân gian của người Quảng Ngãi: “Ba La chạy tới Cù Mông/ Chạy quanh chạy quéo cũng về đồng Ba La”, và bà lại hỏi: Cù Mông ở đâu? Mà vì sao lại chạy quanh chạy quéo?

Cù Mông ở đâu?

Nhờ câu hỏi của mẹ, tôi cố gắng viết đôi điều theo cách hiểu của mình, mà chắc cũng chưa đầy đủ, thấu đáo, vì chỉ là một bài báo nhỏ, nhằm hầu chuyện những ai quan tâm như mẹ tôi. Vậy, Cù Mông ở đâu? Xem Địa bạ Quảng Ngãi, lập năm Gia Long thứ 12 (1813), thấy có tên xã Cù Mông, có đông và bắc giáp xã Ba La, xã Thu Phổ; có tây và nam giáp xã Thu Phổ, xã An Hà, thôn Phú An Thượng, thuộc Tổng Trung, với toàn diện tích gần 815 mẫu (bản in trong sách “Nghiên cứu Địa bạ Triều Nguyễn - Quảng Ngãi” của học giả Nguyễn Đình Đầu, NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, 2010, trang 209).

Đọc mấy dòng trích dẫn này, cũng có thể biết xã Cù Mông xưa là ở đâu, dù nay tên Cù Mông đã không còn. Nhưng tên gọi Cù Mông còn tồn tại đến bao giờ? Có vài tài liệu viết về cổ thành Quảng Ngãi giải thích rằng, Cù Mông là tên gọi có từ thời Gia Long trở về trước, là một xã thuộc huyện Chương Nghĩa, trấn Quảng Nghĩa/Ngãi; đến thời Minh Mạng thì xã Cù Mông đã đổi thành xã Chánh Mông, đến thời vua Đồng Khánh lại đổi thành Chánh Lộ.

Vậy, có phải tên gọi Cù Mông chỉ có từ thời Gia Long về trước? Vào năm 2007, tức cách đây gần 20 năm, đoàn Hương thân Bành Hồ, Đài Loan có về Quảng Ngãi để tìm đến những nơi mà một nho sinh người Bành Hồ là Thái Đình Lan từng được đón tiếp nồng hậu ở tỉnh thành Quảng Ngãi vào năm 1835, sau lần ông đi thi Hương tiến ở Phúc Kiến trở về Bành Hồ thì không may bị gió bão đánh trôi tận bờ biển Thái Cần (Sa Cần), Quảng Ngãi.

Trong chuyến đi này đoàn Hương thân Bành Hồ có mang theo tác phẩm “Hải Nam tạp trứ” của Thái Đình Lan (nguyên tác bằng Hán văn, lẫn bản dịch tiếng Việt của học giả Ngô Đức Thọ), là những ghi chép khá tỉ mỉ, sinh động, chủ yếu về khoảng thời gian hơn 50 ngày Thái Đình Lan lưu trú tại tỉnh thành Quảng Ngãi thuở đó, để tặng cho một số người có trách nhiệm tiếp đoàn.

Khi đọc tác phẩm này, tôi thấy Thái Đình Lan có ghi khái lược về tỉnh thành Quảng Ngãi: “Cách sông chừng một dặm là tỉnh thành Quảng Ngãi. Trú đóng tại tỉnh có một quan Bố chánh, một quan Án sát và một quan Trấn binh(...).

Có một thành nhỏ, tục gọi là thành Cù Mông, mở 3 cửa đông, tây, bắc” (xem “Hải Nam tạp trứ”, đã in trong sách “Thái Đình Lan và tác phẩm Hải Nam tạp trứ” của GS Trần Ích Nguyên, bản dịch của Ngô Đức Thọ, NXB Lao động, và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2009, trang 176 - 177).

Miếu Thành Hoàng ở Ba La, xã An Phú.

Nếu theo ghi chép này, đến năm 1835, tức năm Minh Mạng thứ 16, tên gọi Cù Mông vẫn còn, và thành Cù Mông chỉ là một tòa thành nhỏ nằm trong địa phận xã Cù Mông, huyện Chương Nghĩa, trấn Quảng Ngãi lúc bấy giờ, là tòa thành được bắt đầu xây dựng vào năm 1807 và hoàn thành vào năm 1815.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán Triều Nguyễn, viết thời Tự Đức, quyển 8, phần về tỉnh Quảng Ngãi, cũng có ghi về tòa thành này: “Đó là tòa thành chu vi chỉ có hơn 200 trượng, cao 1 trượng, có 3 cửa, hào rộng 5 trượng, sâu 1 trượng, ở địa phận xã Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa” (xem “Đại Nam nhất thống chí”, bản dịch của Viện Sử học, NXB Khoa học xã hội, 1970, tập II, tr357). Qua ghi chép này, có thể biết, sang đến thời Tự Đức, tên gọi Cù Mông đã đổi thành Chánh Mông - là địa phận các phường thuộc TP. Quảng Ngãi trước khi bị giải thể.

Theo nhà biên khảo Phạm Trung Việt, thì xã Chánh Mông sau lại đổi thành xã Chánh Lộ vào thời Đồng Khánh (“Non nước xứ Quảng”, tân biên, Khai Trí Sài Gòn, 1971, trang 61). Nhưng khi xem lại sách “Đồng Khánh địa dự chí”, là bộ chí ghi lại địa lý các tỉnh trong cả nước từ 1886 - 1888, thì vào thời Đồng Khánh thấy vẫn còn tên gọi là xã Chánh Mông (bản ebook của EFEO). Vì vậy, về thời điểm đổi tên từ Chánh Mông sang Chánh Lộ ắt hẳn cần tìm hiểu kỹ thêm.

Chạy quanh chạy quéo... cũng đồng Ba La

Chắc hẳn bây giờ nhiều người ở Quảng Ngãi đều biết địa danh Ba La ở quê mình. Trong Địa bạ Quảng Ngãi thời Gia Long thì Ba La là một xã cũng thuộc Tổng Trung; đông giáp châu Vạn Tượng, xã La Hà Đông, xã Toàn An; tây giáp xã Cù Mông, xã Toàn An, châu Toàn Phú, xã La Hà Đông, xã Cù Mông, xã Xuân Liêu; bắc giáp châu Toàn Phú, châu Vạn Tượng, xã Cù Mông; toàn diện tích hơn 698 mẫu.

Nếu so với số ruộng đất của xã Cù Mông xưa thì ruộng đất của xã Ba La lúc bấy giờ không nhiều bằng, nhưng ruộng đất Ba La lại tiếp giáp nhiều nơi, và rộng hơn rất nhiều các xã lân cận thuộc Tổng Trung thời Gia Long, như xã Toàn An (48 mẫu), châu Vạn Tượng (122 mẫu), châu Toàn Phú (31 mẫu)...

Nên phải chăng, người ở phía dưới đồng Ba La lên tới Cù Mông, nếu đi bộ thuở ấy, “phải chạy quanh chạy quéo”, vì đất đai xã Ba La khá rộng, là một trong ít xã rộng nhất thuộc trấn Quảng Ngãi lúc bấy giờ, dường như chỉ sau xã Cù Mông, gần bằng cả tổng diện tích Tổng Hạ với 8 thôn xã, tiếp giáp ở phía đông (chưa kể Ba La lại còn tiếp giáp khá nhiều nơi khác ở thuộc Đồn Điền, Tổng Thượng, Tổng Trung - xem “Địa bạ Quảng Ngãi”, trang 191).

Cũng từ cách tạm suy luận như vậy, nên ở đây, cũng có thể đặt ra một lời gợi mở: Phải chăng câu ca trên chỉ có thể ra đời trước, hoặc vào thời vua Minh Mạng, tức muộn nhất là cách ngày nay khoảng hơn 200 năm?.

Bài, ảnh: ĐĂNG VŨ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét