24 thg 1, 2013

Hồ Núi Cốc - một bức tranh thiên nhiên kì thú

Hồ Núi Cốc thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15km về hướng tây nam. Nơi đây nổi tiếng bởi nét đẹp thiên tạo tự bao năm nay và bởi cả sắc màu huyền thoại của truyền thuyết nàng Công - chàng Cốc. 

Hồ Núi Cốc có 89 hòn đảo lớn nhỏ. 

Hồ Núi Cốc nằm giữa một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú, sơn thuỷ hữu tình. Mặt hồ rộng mênh mông, có 89 hòn đảo lớn nhỏ. Không khí ở đây hết sức trong lành và tinh khiết. Những dãy núi dài lấp ló trong mây, tựa như một cô gái đang nằm xoã tóc, dưới chân núi là mặt hồ êm ru sóng gợn. 

Lịch sử kiến tạo hồ Ba Bể

Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt nằm giữa hai huyện Ba Bể, Chợ Đồn thuộc tỉnh Bắc Kạn. Hồ dài 8km, rộng 3km, nằm trên độ cao 145m so với mặt nước biển và được hình thành từ cách đây hơn 200 triệu năm. Bao quanh hồ là những dãy núi đá vôi cổ có niên đại hơn 450 triệu năm. Nơi đây được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam. 

Vẻ đẹp tự nhiên của hồ Ba Bể

Theo tiếng địa phương, hồ Ba Bể là "Slam Pé" (ba hồ), là tên gọi chung của 3 hồ thông nhau gồm Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Hồ Ba Bể được hình thành cách đây hơn 200 triệu năm, do cuộc kiến tạo lục địa Đông Nam Á cuối kỷ Camri đã đưa một khối nước khổng lồ với bề mặt xấp xỉ 5 triệu m2 và chiều dày hơn 30m lên lưng chừng vùng núi đá vôi, tạo ra hồ Ba Bể. 

23 thg 1, 2013

Ngôi chùa nơi vua Minh Mạng chào đời

Trong những ngày đầu thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, nếu như chùa Sắc tứ Kim Chương dỡ được bộ sườn gỗ cùng nhiều hiện vật di tản về miền Tây thì Sắc tứ Khải Tường tự không có may mắn đó. Song đây là ngôi chùa của hoàng gia, dẫu “nước mất chùa tan” cũng phải giữ lại, dù chỉ là một cái tên.

Khoảng năm Mậu Thân (1788), chúa Nguyễn Phúc Ánh trở lại Gia Định có mượn nhà Tống Quốc công phu nhân (tức Tống Phúc Khuông phu nhân) để tạm trú. Theo lịch sử thì vào ngày 22 tháng 4 năm Tân Hợi (1791), Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm (tức vua Minh Mạng) đã chào đời tại đây. Do đó, sau khi lên ngôi, nhà vua trăn trở: “Cố cung - chỗ sinh ra Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ở tại xã Dương Xuân (Huế), nhưng vì do binh biến nên không còn di tích. Sau khi đất nước thanh bình, trẫm tìm hiểu không ra. Mỗi khi nghĩ đến thương cảm khôn nguôi”, rồi ra lệnh cho Bộ Lễ: “... Nhân đó nghĩ đến chỗ ta ở chỗ nhà cũ của Tổng quốc công phu nhân tại ngoại thành Gia Định, vậy sai quan địa phương tìm hỏi xem”. 


Chân dung hòa thượng Chơn Thành - Ảnh: H.P 

Vùng chè cổ thụ Phình Hồ & Háng Tề Chơ

Chắc cũng do ảnh hưởng truyền thống gia đình nên chẳng biết từ khi nào đã đam mê cái thú uống chè và đi tìm hiểu về các vùng chè Việt Nam. Cũng đã tận mắt chiêm ngưỡng nhiều vùng chè nhưng say mê nhất là những vùng chè cổ thụ của miền bắc. Một trong những cái nôi của văn hóa chè Việt Nam.

Trong tiềm thức khi còn nhỏ, cây chè thường be bé xinh xinh, cao lắm thì đến ngực là cũng, cũng bởi thế mà ngỡ ngàng xiết bao khi lạc vào thế giới chè cổ thụ với những rừng chè cao từ vài mét đến chục mét. Trong bài viết này chia sẻ ít hình ảnh của 2 vùng chè Phình Hồ và Háng Tề Chơ (một vùng chè chẳng mấy ai biết đến trừ những con người nơi đây)


 Trong bài viết này cũng chỉ nói về chè dưới cái nhìn du lịch chứ không phải chuyên gia nghiên cứu nên có "loạn ngôn" chút mọi người cũng đừng trách nhé.


Quỷ đến Phình Hồ - Yên Bái lần này là thứ 2, cũng để chinh phục ngọn thác huyền thoại Háng Tề Chơ và thăm lại bản Phình Hồ với muôn nghìn chè cổ thụ, lần này quay lại có nhiều kinh nghiệm rồi nên tranh thú hái chè đem dìa Sài Gòn đặng nhâm nhi với bạn bè mà bàn chuyện "thiên hạ phân tranh".:D



Độc đáo cơm cháy Ninh Bình

"Rượu ngon cơm cháy thịt dê
Ninh Bình chào đón khách về tham quan
”...

Ninh Bình được biết đến bởi những di tích - danh thắng nổi tiếng như Tràng An, Tam Cốc Bích Động, chùa Bái Đính hay nhà thờ Phát Diệm… Ngoài ra mảnh đất cố đô còn được người ta biết đến bởi đặc sản cơm cháy hàng trăm năm - món quà độc đáo cho du khách thập phương khi tới tham quan.


Cơm cháy không chỉ là món ăn truyền thống của mỗi gia đình ở cố đô Hoa Lư... - Ảnh: P.Thanh

Mỗi khi có dịp qua Ninh Bình, tôi đều tìm mua đặc sản cơm cháy mang về làm quà. Cơm cháy được người dân nơi đây chế biến và bày bán quanh năm, bất kể mùa đông hay mùa hè. Ngày lạnh người ta thưởng thức món cơm cháy chà bông, còn mùa nóng là cơm cháy kèm nước xốt.
Nguồn gốc cơm cháy Ninh Bình
Tương truyền món cơm cháy Ninh Bình được hình thành hơn 100 năm (từ cuối thế kỷ 19). Món cơm này do một chàng thanh niên người Ninh Bình (cũng có người nói  thanh niên này tên là Hoàng Thăng) học được và phát triển từ một món ăn của người Hoa, sau đó mở rất nhiều tiệm ăn ở Hà Nội lẫn Ninh Bình. Từ đó món cơm cháy được lưu truyền, phát triển và nay trở thành một đặc sản của vùng đất cố đô.

Ngày nay còn có riêng một dòng cơm cháy gia truyền nổi tiếng và thơm ngon mang tên Hoàng Thăng.
Cơm cháy truyền thống của Ninh Bình được làm từ gạo tám hoặc gạo nếp, trong đó gạo tám Hải Hậu (Nam Định) là ngon nhất. Tuy nhiên, do giá cả thứ gạo này thường cao hơn nên người ta cũng có thể dùng các loại gạo khác (miễn sao gạo phải có độ dẻo, thơm). 


Dê núi Ninh Bình


Dê núi Ninh Bình, một đặc sản có thương hiệu địa phương đã lai rai xuất hiện tại những trung tâm ẩm thực lớn của đất nước như Hà Nội, Sài Gòn. Có lẽ, dê núi Ninh Bình mới thật sự là dê núi và người dân ở đây đã rất tỉ mẩn chăm chút cho các món đặc sản thế mạnh của vùng này
Những “động vật hoang dã” duy nhất có thể nhìn thấy bằng mắt thường trên những vùng núi Ninh Bình chính là những đàn dê. Ngồi trên những chiếc xuồng xuôi ngược trên dòng Sào Khê chảy ngang qua khu du lịch Tràng An, du khách sẽ thấy nhiều chú dê be be tít tận những dốc đá hiểm trở đến mức mà hầu như ai cũng thắc mắc về phương cách leo trèo của đàn dê nhà này.

Đến Bái Đính rồi… bái biệt!

Chuẩn bị chuyến du lịch đến Ninh Bình, giám đốc một công ty lữ hành đã khuyên chúng tôi chỉ nên tham quan khu hang động Tràng An, không nên đến chùa Bái Đính. Tuy vậy, chúng tôi vẫn cố đến tham quan Bái Đính một lần cho biết, để rồi phải... bái chào luôn! 


Và tiền... trên cả mặt trống đồng! 

Đi thuyền trên sông Ngô Đồng



Sông Ngô Đồng chảy vòng vèo, uốn lượn giữa đồng lúa chín vàng. 

Để vào Tam Cốc - Bích Động, khu du lịch có nhiều hang động và di tích lịch sử liên quan đến triều đại nhà Trần, chủ yếu thuộc địa phận xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, chúng tôi đã có hai tiếng đồng hồ đi thuyền trên sông Ngô Đồng, vòng vèo giữa cánh đồng lúa đang vào mùa gặt nhuộm vàng cả con sông.

Về thăm cảnh tiên Bích Động


Nằm trong quần thể du lịch của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, từ lâu Bích Động đã được biết đến với danh xưng “Nam thiên đệ nhị động” (động đẹp thứ nhì ở trời Nam sau động Hương Tích).




Cổng chùa tam quan cổ kính ẩn hiện sau tán cây rậm rạp - Ảnh: Nguyễn Thắng

Trong tiết trời mát mẻ một ngày đầu thu, quãng đường hơn 100km từ Hà Nội về Bích Động dường như không lấy đi bao nhiêu sức lực của nhóm du khách trẻ. Nhìn từ xa, ngôi chùa thấp thoáng ẩn hiện trong tán cây rậm rạp của ngọn núi Ngũ Nhạc Sơn.


Cố đô Hoa Lư

Hơn 1.000 năm trước (năm 968), sau khi bình định 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, chọn Hoa Lư (xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội gần 100km) làm kinh đô. Đến năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Hoa Lư trở thành cố đô từ đó. 

Hoa Lư với những dãy núi đá hình vòng cung, những con sông bao quanh, như một chiến hào vững chắc rất tiện lợi cho phòng thủ và chiến đấu. Hướng nam Hoa Lư được núi Ngự làm thành một bức tường kiên cố. Hướng tây được dải Trường Yên che chở. Hướng bắc có sông Hoàng Long. Một nhánh của sông Hoàng Long chảy theo sông Bội đổ vào động Hoa Lư - căn cứ địa đầu tiên của Ðinh Bộ Lĩnh.


Cùng với sông Lãng, sông Bội, sông Hoàng Long tạo thành một hệ thống thủy lộ chằng chịt nối liền với các vùng đất khác nhau. Vào thời ấy giao thông đường thủy hết sức quan trọng đối với quốc phòng và đời sống kinh tế, văn hóa của dân tộc. Vì vậy, Hoa Lư được Đinh Tiên Hoàng chọn làm kinh đô là điều tất yếu...



Đền vua Lê