Hiển thị các bài đăng có nhãn người Mường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn người Mường. Hiển thị tất cả bài đăng
3 thg 6, 2026
Măng chua của người Mường có mặt nhiều nước trên thế giới
Từ những hũ măng chua quen thuộc trong căn bếp người Mường, măng bương Phú Thọ đang bước ra khỏi phạm vi một món ăn dân dã, vươn ra thị trường trong nước và quốc tế.
1 thg 6, 2026
Ẩm thực người Mường: Gắn kết người với người quanh mâm cỗ lá giản dị
Cỗ lá của Mường không chỉ là ở món ăn, mà còn là nơi gìn giữ nếp sống, gắn bó cộng đồng và ký ức văn hóa qua nhiều thế hệ.
28 thg 5, 2026
Mạch Mường trên cao nguyên Đắk Lắk
Sau nhiều năm lập nghiệp trên cao nguyên Đắk Lắk, cộng đồng người Mường vẫn bền bỉ giữ tiếng chiêng, Mo Mường và nếp văn hóa quê nhà qua nhiều thế hệ.
Tiếng chiêng "gọi" quê hương trên đất cao nguyên
Mỗi dịp lễ hội ở phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk, tiếng chiêng Mường, lại vang lên rộn rã. Âm thanh ấy không chỉ tạo nên không khí tưng bừng ngày hội mà còn gợi nhớ về quê hương.
Mỗi dịp lễ hội ở phường Tân Lập, tỉnh Đắk Lắk, tiếng chiêng Mường, lại vang lên rộn rã. Âm thanh ấy không chỉ tạo nên không khí tưng bừng ngày hội mà còn gợi nhớ về quê hương.
10 thg 5, 2026
Về xứ Mường: Độc đáo gốm Mường
Người Mường vốn không làm gốm nhưng một họa sĩ đã dùng hơn 10 năm 'biến hóa' cùng đất tổ mối, men tro, nguyên liệu bản địa để khai sinh dòng nghệ thuật mới: gốm Mường.
Trong không gian mênh mang của Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, dễ bắt gặp những hình khối gốm, chất liệu quen nhưng tạo hình khác biệt, sắc men giản dị nhưng sâu lắng, nhiều chi tiết hỏa biến nhờ nung - đốt tinh tế mà mộc mạc. Chủ nhân của chúng, họa sĩ Vũ Đức Hiếu, gọi đó là "gốm Mường".
Người Mường xưa không làm gốm nhưng họa sĩ Vũ Đức Hiếu lại dùng chữ "Mường" để đặt tên cho dòng gốm do mình khai sinh. Anh nói: "Trong lịch sử gốm Việt, nhiều dòng gốm cũng mang tên vùng đất như Bát Tràng, Chu Đậu, Gò Sành, Lái Thiêu… Tôi chỉ tiếp nối cách định danh ấy, nhưng với không gian văn hóa Mường đương đại".
Trong không gian mênh mang của Bảo tàng Không gian văn hóa Mường, dễ bắt gặp những hình khối gốm, chất liệu quen nhưng tạo hình khác biệt, sắc men giản dị nhưng sâu lắng, nhiều chi tiết hỏa biến nhờ nung - đốt tinh tế mà mộc mạc. Chủ nhân của chúng, họa sĩ Vũ Đức Hiếu, gọi đó là "gốm Mường".
Người Mường xưa không làm gốm nhưng họa sĩ Vũ Đức Hiếu lại dùng chữ "Mường" để đặt tên cho dòng gốm do mình khai sinh. Anh nói: "Trong lịch sử gốm Việt, nhiều dòng gốm cũng mang tên vùng đất như Bát Tràng, Chu Đậu, Gò Sành, Lái Thiêu… Tôi chỉ tiếp nối cách định danh ấy, nhưng với không gian văn hóa Mường đương đại".
Về xứ Mường: Chuyện 'chiêng có hồn'
Chỉ bằng cái xoa nhẹ, chiếc chiêng cổ bỗng ngân lên thứ âm thanh lạnh sống lưng. Nhưng lạ thay, cũng chiếc chiêng ấy, người khác xoa mãi, chiêng vẫn im lặng.
Người Mường tin rằng chiêng có hồn. Chiêng không chỉ là nhạc cụ, mà là tiếng nói của làng bản, là linh hồn của nghi lễ, hội hè. Không phải ai cũng chơi được chiêng xứ Mường. Nhiều gia đình mỗi khi đem chiêng ra sử dụng còn phải làm nghi lễ cúng bái để "đánh thức chiêng".
Người Mường tin rằng chiêng có hồn. Chiêng không chỉ là nhạc cụ, mà là tiếng nói của làng bản, là linh hồn của nghi lễ, hội hè. Không phải ai cũng chơi được chiêng xứ Mường. Nhiều gia đình mỗi khi đem chiêng ra sử dụng còn phải làm nghi lễ cúng bái để "đánh thức chiêng".
Về xứ Mường: Câu hò xin thần rừng và nhà lang cuối cùng
Muốn lắng nghe hồn vía xứ Mường, phải về Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) - vùng đất được xem là địa bàn cư trú cổ xưa nhất của người Mường (chiếm hơn 60% dân số).
Từ QL6, qua Mường Khan, Mường Khến…, chúng tôi rẽ vào Tân Lạc - Mường Bi xưa - đúng mùa vàng đương vụ, thung lũng như khoác tấm áo rực rỡ nhất trong năm. Đường vào Mường Bi nức mùi lúa chín…
Từ QL6, qua Mường Khan, Mường Khến…, chúng tôi rẽ vào Tân Lạc - Mường Bi xưa - đúng mùa vàng đương vụ, thung lũng như khoác tấm áo rực rỡ nhất trong năm. Đường vào Mường Bi nức mùi lúa chín…
HÒ MƯỜNG - THANH ÂM DĨ VÃNG
Hò Mường còn gọi là hò kéo gỗ. Tư liệu chi tiết về lời ca cụ thể của điệu hò này rất hiếm nhưng sự tồn tại của nó gắn liền với nghi lễ dựng nhà sàn. Việc kéo những cây gỗ lớn từ rừng về bản đòi hỏi sức mạnh tập thể. Tiếng hò ở đây đóng vai trò như nhịp đếm để đồng bộ hóa sức lực của hàng chục con người. Đồng thời, điệu hò còn mang ý nghĩa tâm linh: lời xin phép thần rừng, thần cây trước khi đưa gỗ về làm nhà.
Họa sĩ Hiếu "Mường" (Vũ Đức Hiếu, người có hơn 20 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Mường) kể lại: "Tôi biết điệu hò Mường khoảng năm 2007 khi thuê phường mộc Tuân Lộ (Mường Bi) dựng lại nhà lang (kiến trúc đặc trưng của người Mường). Khi dựng cột, kéo gỗ, họ cất tiếng hát, khi đến cuối câu, ngắt nhịp, lại nghe: Hò dô! Hò ả! Hỏi ra mới biết đó là hò Mường".
Hò Mường còn gọi là hò kéo gỗ. Tư liệu chi tiết về lời ca cụ thể của điệu hò này rất hiếm nhưng sự tồn tại của nó gắn liền với nghi lễ dựng nhà sàn. Việc kéo những cây gỗ lớn từ rừng về bản đòi hỏi sức mạnh tập thể. Tiếng hò ở đây đóng vai trò như nhịp đếm để đồng bộ hóa sức lực của hàng chục con người. Đồng thời, điệu hò còn mang ý nghĩa tâm linh: lời xin phép thần rừng, thần cây trước khi đưa gỗ về làm nhà.
Họa sĩ Hiếu "Mường" (Vũ Đức Hiếu, người có hơn 20 năm sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Mường) kể lại: "Tôi biết điệu hò Mường khoảng năm 2007 khi thuê phường mộc Tuân Lộ (Mường Bi) dựng lại nhà lang (kiến trúc đặc trưng của người Mường). Khi dựng cột, kéo gỗ, họ cất tiếng hát, khi đến cuối câu, ngắt nhịp, lại nghe: Hò dô! Hò ả! Hỏi ra mới biết đó là hò Mường".
Về xứ Mường: 'Quái ngư' sông Đà trong cỗ lá Mường
Tại sao dân sành ăn lại mê mẩn những loài "quái ngư" dưới sông Đà ? Bài viết hé lộ câu chuyện quái ngư và quy tắc "người vào, ma ra" trong ẩm thực xứ Mường.
"Cỗ lá" là mâm cỗ bày trên lá (thường là lá chuối). Người Mường đi đâu, về đâu, trong mọi cuộc hội hè, khi dọn mâm đãi khách, cỗ lá là điều không thể thiếu. Món đãi khách bày trên lá chuối xanh, nơi xôi đồ (xôi hấp), thịt lợn, rau rừng sum vầy. Trong mâm cỗ lá ấy, từ ngàn đời đã có một "ngôi chủ" được ưu ái, nâng niu nhiều nhất, chính là cá - món ngon mang hồn vía sông Đà, dân dã mà huyền thoại.
Đoạn đường về với xứ Mường, dường như ngày nào cũng gặp cỗ lá. Dù đã quen, đã say với những món ăn tươi nguyên hơi thở núi rừng, vẫn luôn có một điều khiến những kẻ phương xa chúng tôi phải reo lên thích thú, bởi vì cá!
"Cỗ lá" là mâm cỗ bày trên lá (thường là lá chuối). Người Mường đi đâu, về đâu, trong mọi cuộc hội hè, khi dọn mâm đãi khách, cỗ lá là điều không thể thiếu. Món đãi khách bày trên lá chuối xanh, nơi xôi đồ (xôi hấp), thịt lợn, rau rừng sum vầy. Trong mâm cỗ lá ấy, từ ngàn đời đã có một "ngôi chủ" được ưu ái, nâng niu nhiều nhất, chính là cá - món ngon mang hồn vía sông Đà, dân dã mà huyền thoại.
Đoạn đường về với xứ Mường, dường như ngày nào cũng gặp cỗ lá. Dù đã quen, đã say với những món ăn tươi nguyên hơi thở núi rừng, vẫn luôn có một điều khiến những kẻ phương xa chúng tôi phải reo lên thích thú, bởi vì cá!
Về xứ Mường: Thầy mo Mường và túi Khót bí ẩn
Lên xứ Mường Chậm (tỉnh Phú Thọ) gặp thầy mo đời thứ 6, mở túi Khót chứa hơn 40 bảo bối và nghe những câu chuyện nằm giữa ranh giới hư - thực.
Theo cứ liệu lịch sử, khảo cổ và giới chuyên gia, người Kinh và người Mường ngày xưa có cùng tổ tiên là người Việt cổ. Cả hai đều tương đồng nền văn minh lúa nước, nhóm ngôn ngữ, văn hóa…, đến nay, người Mường được xem là còn giữ nhiều nét xưa của người Việt cổ như thuật "gọi chiêng" bí truyền, ẩm thực "cỗ lá - cá Mường", thầy mo chữa bệnh, trừ tà...
Từ ngàn đời, người Mường coi thầy mo là cầu nối hai thế giới của Mường trời, Mường ma với Mường giữa (Mường Bằng) dành cho người. Mo vừa là người hành lễ trong các nghi thức tang ma, vía, dựng nhà, khai hạ… vừa là người gìn giữ văn hóa, bản sắc, gánh trên vai cả ký ức bản Mường.
Theo cứ liệu lịch sử, khảo cổ và giới chuyên gia, người Kinh và người Mường ngày xưa có cùng tổ tiên là người Việt cổ. Cả hai đều tương đồng nền văn minh lúa nước, nhóm ngôn ngữ, văn hóa…, đến nay, người Mường được xem là còn giữ nhiều nét xưa của người Việt cổ như thuật "gọi chiêng" bí truyền, ẩm thực "cỗ lá - cá Mường", thầy mo chữa bệnh, trừ tà...
Từ ngàn đời, người Mường coi thầy mo là cầu nối hai thế giới của Mường trời, Mường ma với Mường giữa (Mường Bằng) dành cho người. Mo vừa là người hành lễ trong các nghi thức tang ma, vía, dựng nhà, khai hạ… vừa là người gìn giữ văn hóa, bản sắc, gánh trên vai cả ký ức bản Mường.
19 thg 3, 2026
Giữ hồn Lễ hội Mường Đòn nơi miền Tây xứ Thanh
Tháng Giêng, khi sắc Xuân còn vương trên những triền đồi miền Tây xứ Thanh, người dân Mường Đòn lại nô nức bước vào mùa lễ hội truyền thống của bản mường.
28 thg 1, 2026
Cúng vía bếp - Nghi lễ quan trọng của người Mường
Nằm trong chuỗi hoạt động tháng “Tết bản làng” trong tháng 1 tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, TP. Hà Nội), đồng bào dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ vừa tổ chức tái hiện tục cúng vía bếp - một trong những nghi lễ dân gian quan trọng, mang đậm yếu tố tâm linh trong đời sống tinh thần của người Mường.
Tục cúng vía cho bếp (Khồông bếp) là nghi lễ quan trọng khi sửa bếp của người Mường. Đây không chỉ đơn giản là việc sửa sang lại nơi nấu nướng, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc bởi người Mường coi bếp lửa như linh hồn của ngôi nhà, bảo vệ gia đình, mang lại sự ấm no, thịnh vượng và xua đuổi tà khí.
Mâm cúng vía bếp của đồng bào Mường
Tục cúng vía cho bếp (Khồông bếp) là nghi lễ quan trọng khi sửa bếp của người Mường. Đây không chỉ đơn giản là việc sửa sang lại nơi nấu nướng, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc bởi người Mường coi bếp lửa như linh hồn của ngôi nhà, bảo vệ gia đình, mang lại sự ấm no, thịnh vượng và xua đuổi tà khí.
2 thg 1, 2026
Xóm Mường cổ Lũy Ải - bản giao hưởng của di sản văn hóa và du lịch
Vùng đất cổ Mường Bi là vùng Mường lớn nhất trong bốn Mường (Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động). Nơi đây với những nếp nhà sàn cổ, thửa ruộng bậc thang cùng các điệu múa Mường trong thanh âm trầm hùng của chiêng Mường vẫn đang lưu giữ nhiều nét văn hóa nguyên bản của dân tộc Mường Hòa Bình cũ, được xem như “trái tim” của người Mường.
Trong không gian phát triển mới, vùng đất Mường Bi với xóm Mường cổ Lũy Ải đang được chính quyền tỉnh Phú Thọ, người dân gìn giữ và thổi luồng sinh khí mới vào những di sản văn hóa trong hành trình phát triển bền vững của du lịch văn hóa.
Lũy Ải - “viên ngọc thô” được thời gian lưu giữ
Trong không gian phát triển mới, vùng đất Mường Bi với xóm Mường cổ Lũy Ải đang được chính quyền tỉnh Phú Thọ, người dân gìn giữ và thổi luồng sinh khí mới vào những di sản văn hóa trong hành trình phát triển bền vững của du lịch văn hóa.
Lũy Ải - “viên ngọc thô” được thời gian lưu giữ
1 thg 1, 2026
'Thung lũng trường thọ' lưu giữ văn hóa Mường cổ
Giữa những giải mây bảng lảng và những dãy núi trùng điệp của núi rừng Tây Bắc, xã Vân Sơn, còn được gọi là “nóc nhà xứ Mường” của tỉnh Phú Thọ, hiện lên như một bản giao hòa của thiên nhiên, con người. Với cảnh sắc nguyên sơ, khí hậu mát lành và những giá trị văn hóa của vùng Mường cổ được lưu giữ vẹn nguyên, xã Vân Sơn đang trở thành điểm sáng du lịch mới của tỉnh Phú Thọ.
29 thg 11, 2025
Giang Mỗ bảo tồn văn hóa Mường gắn với phát triển du lịch
Nằm cách trung tâm phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ khoảng 10 km, bản Giang Mỗ mang trong mình vẻ đẹp nguyên sơ và thanh bình. Đây là một không gian bản làng mang đậm nét văn hóa Mường cổ vẫn đang được người dân nơi đây gìn giữ và phát triển.
Bản Mường Giang Mỗ đang là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn khám phá và trải nghiệm về văn hóa của cộng đồng người Mường.
Xóm Mường cổ Lũy Ải - bản giao hưởng của di sản văn hóa và du lịch
Vùng đất cổ Mường Bi là vùng Mường lớn nhất trong bốn Mường (Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động). Nơi đây với những nếp nhà sàn cổ, thửa ruộng bậc thang cùng các điệu múa Mường trong thanh âm trầm hùng của chiêng Mường vẫn đang lưu giữ nhiều nét văn hóa nguyên bản của dân tộc Mường Hòa Bình cũ, được xem như “trái tim” của người Mường.
Trong không gian phát triển mới, vùng đất Mường Bi với xóm Mường cổ Lũy Ải đang được chính quyền tỉnh Phú Thọ, người dân gìn giữ và thổi luồng sinh khí mới vào những di sản văn hóa trong hành trình phát triển bền vững của du lịch văn hóa.
Lũy Ải - “viên ngọc thô” được thời gian lưu giữ
Trong không gian phát triển mới, vùng đất Mường Bi với xóm Mường cổ Lũy Ải đang được chính quyền tỉnh Phú Thọ, người dân gìn giữ và thổi luồng sinh khí mới vào những di sản văn hóa trong hành trình phát triển bền vững của du lịch văn hóa.
Lũy Ải - “viên ngọc thô” được thời gian lưu giữ
28 thg 11, 2025
'Thung lũng trường thọ' lưu giữ văn hóa Mường cổ
Giữa những giải mây bảng lảng và những dãy núi trùng điệp của núi rừng Tây Bắc, xã Vân Sơn, còn được gọi là “nóc nhà xứ Mường” của tỉnh Phú Thọ, hiện lên như một bản giao hòa của thiên nhiên, con người. Với cảnh sắc nguyên sơ, khí hậu mát lành và những giá trị văn hóa của vùng Mường cổ được lưu giữ vẹn nguyên, xã Vân Sơn đang trở thành điểm sáng du lịch mới của tỉnh Phú Thọ.
21 thg 10, 2025
Điểm hẹn du lịch cộng đồng mới vùng Mường Thàng
Trong không gian núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, xóm Mừng với cảnh quan thiên nhiên tươi mát, trong lành cùng những mùa hoa rực rỡ và bản sắc văn hóa Mường đặc sắc đang vươn mình trở thành điểm sáng về du lịch cộng đồng, là điểm đến của du khách trong và ngoài nước.
1 thg 10, 2025
Câu chuyện đặc biệt trong tấm vải thổ cẩm của người Mường ở xóm Cóm
Với quy trình thủ công cầu kỳ, từ trồng bông, kéo sợi đến nhuộm màu tự nhiên, những hoa văn tinh tế như quả trám, trái tim, ngọn núi không chỉ phản ánh thiên nhiên mà còn lưu giữ bản sắc dân tộc.
Ở tuổi ngoài 60, bà Bùi Thị Hương ở xóm Cóm (Tân Lạc, Phú Thọ) là một trong số ít người vẫn miệt mài giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Mường.
Ở tuổi ngoài 60, bà Bùi Thị Hương ở xóm Cóm (Tân Lạc, Phú Thọ) là một trong số ít người vẫn miệt mài giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Mường.
5 thg 9, 2025
Vấn vương ẩm thực của người Mường ở Trà My
Làng Mường, xã Trà My (TP. Đà Nẵng) là nơi sinh sống của các hộ dân tộc Mường di cư từ miền Bắc vào từ những năm 80 của thế kỷ trước. Ngoài việc tập trung phát triển kinh tế, đồng bào Mường còn chú trọng gìn giữ phong tục tập quán, bản sắc văn hóa, truyền thống, đặc biệt là "bí quyết" chế biến những món ăn dân dã, hấp dẫn phục vụ khách du lịch.
15 thg 8, 2025
Khám phá bản làng trên hồ nhân tạo lớn nhất Đông Nam Á
Hồ Thủy điện Hòa Bình không chỉ ấn tượng với cảnh sắc núi sông kỳ vĩ, mà còn có những bản làng nguyên sơ của đồng bào Mường, Dao.
Nơi đây, du lịch cộng đồng đang phát triển mạnh mẽ, trở thành điểm đến hấp dẫn trên hành trình khám phá công trình thế kỷ này.
Hồ Hòa Bình được hình thành từ khi xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà, dài hơn 100km, trải rộng trên địa bàn 17 xã thuộc tỉnh Hòa Bình cũ, với dung tích lên đến gần 9,5 tỉ mét khối nước - là hồ nhân tạo lớn nhất Đông Nam Á. Với hệ sinh thái sông núi xen kẽ tạo nên quần thể cảnh quan đặc sắc, vùng hồ này đã được quy hoạch trở thành Khu du lịch quốc gia hồ Hòa Bình.
Những bản làng nằm nép mình ven hồ là điểm đến lý tưởng trên hành trình khám phá vùng hồ Thủy điện Hòa Bình rộng lớn. Ảnh: Bình Khang
Nơi đây, du lịch cộng đồng đang phát triển mạnh mẽ, trở thành điểm đến hấp dẫn trên hành trình khám phá công trình thế kỷ này.
Hồ Hòa Bình được hình thành từ khi xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà, dài hơn 100km, trải rộng trên địa bàn 17 xã thuộc tỉnh Hòa Bình cũ, với dung tích lên đến gần 9,5 tỉ mét khối nước - là hồ nhân tạo lớn nhất Đông Nam Á. Với hệ sinh thái sông núi xen kẽ tạo nên quần thể cảnh quan đặc sắc, vùng hồ này đã được quy hoạch trở thành Khu du lịch quốc gia hồ Hòa Bình.
28 thg 6, 2025
Độc đáo bộ Lịch Rọi của người Mường
Lịch Rọi – loại lịch cổ xưa của người Mường, là một di sản văn hóa đặc sắc, phản ánh tri thức và thế giới quan gắn bó mật thiết với tự nhiên, mùa màng và tín ngưỡng dân gian.
Lịch Rọi, còn gọi là lịch tre hay lịch Mường thường được làm từ tre già hoặc nứa thẳng, dài khoảng 40–60 cm. Mỗi bộ lịch gồm 12 thẻ tương ứng với 12 tháng, trên đó khắc các vạch và ký hiệu như hình tròn, dấu gạch chéo, hình tam giác… Những dấu hiệu này cho biết ngày tốt – xấu, ngày đại cát – tiểu cát, ngày kiêng kỵ hoặc phù hợp cho từng việc cụ thể như dựng nhà, cưới xin, lên rừng, xuống suối, gieo trồng, làm lễ…
Người Mường ở Hòa Bình tự hào giới thiệu bộ Lịch Rọi truyền thống.
Lịch Rọi, còn gọi là lịch tre hay lịch Mường thường được làm từ tre già hoặc nứa thẳng, dài khoảng 40–60 cm. Mỗi bộ lịch gồm 12 thẻ tương ứng với 12 tháng, trên đó khắc các vạch và ký hiệu như hình tròn, dấu gạch chéo, hình tam giác… Những dấu hiệu này cho biết ngày tốt – xấu, ngày đại cát – tiểu cát, ngày kiêng kỵ hoặc phù hợp cho từng việc cụ thể như dựng nhà, cưới xin, lên rừng, xuống suối, gieo trồng, làm lễ…
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



















