Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử - Giai thoại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử - Giai thoại. Hiển thị tất cả bài đăng

27 thg 1, 2026

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Khởi nghĩa Hương Khê và thủ lĩnh Phan Đình Phùng

Phan Đình Phùng, hiệu Châu Phong, tự Tôn Cát, sinh năm 1847 tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, H.La Sơn, phủ Đức Thọ (nay thuộc xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) trong một gia đình nổi tiếng thi thư, có tới mười hai đời nối nhau đỗ đạt và ra làm quan.

Một người cương trực

Năm 29 tuổi (1876), Phan Đình Phùng thi đỗ cử nhân khoa Bính Tý, năm sau (1877) đỗ Tiến sĩ.

Phan Đình Phùng ra làm quan, nhanh chóng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng. Do đức tính liêm khiết và cương trực, ông được vua Tự Đức cho giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, một vị trí có quyền chỉ trích các quan lại đồng liêu, dẫn đến việc loại bỏ được nhiều kẻ bất tài, tham nhũng. Vua Tự Đức đã từng khen ngợi: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được).

Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.

Chân dung Phan Đình Phùng. Ảnh: TL

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Hoàng Đình Kinh - thủ lĩnh Tày kiên cường

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, thủ lĩnh người Tày Hoàng Đình Kinh chọn núi Tinh Lãng (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) làm căn cứ chính cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Nơi này có địa thế hiểm trở, thuận lợi cho phòng thủ và tổ chức lực lượng kháng chiến lâu dài.

Hoàng Đình Kinh (còn gọi là Cai Kinh), người dân tộc Tày, sinh năm 1830 tại xã Hòa Lạc, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Hoàng Đình Khoa, làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông thay cha làm cai tổng nên còn có tên gọi là Cai Kinh.

Núi Cai Kinh, nơi thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Đình Kinh xây dựng căn cứ kháng Pháp. ẢNH: TRƯƠNG HẰNG

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Nguyễn Duy Hiệu và Nghĩa hội Quảng Nam

Nghĩa hội hình thành

Trần Văn Dư húy Tự Dư, thụy Hoán Nhược, sinh năm Kỷ Hợi (1839) tại làng An Mỹ Tây, H.Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay thuộc xã Tây Hồ, TP.Đà Nẵng), trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ (1858), đỗ Cử nhân ân khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875).

Chân dung Nguyễn Duy Hiệu. Ảnh: T.L

Cuối năm Quý Mùi (1884), Trần Văn Dư được điều về Quảng Nam giữ chức Sơn phòng sứ. Sơn Phòng là một tổ chức quân sự đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và kiểm soát các vùng biên giới, miền núi hiểm trở của đất nước. Vì vậy, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (tháng 7.1885), triều đình do Hoàng Thái hậu Từ Dụ nhiếp chính có xu hướng hòa hoãn với Pháp, nhận thấy việc Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ là điều bất lợi nên ra dụ điều chuyển ông vào làm Bố chính sứ Bình Thuận và cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu lên thay. Trần Văn Dư khước từ không nhận chỉ dụ, tuy vẫn bàn giao chức vụ, rồi bỏ về quê, không hợp tác với triều đình.

40 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Mai Xuân Thưởng phất cao cờ nghĩa

Phong trào Cần Vương ở Bình Định (1885 - 1887) là một bộ phận quan trọng của phong trào Cần Vương cả nước với đặc điểm nổi bật là hưởng ứng sớm, phát triển mạnh mẽ, có quy mô lớn và mang tính nhân dân sâu rộng.

Đào Doãn Địch, người mở đầu

Người đầu tiên tổ chức lực lượng nghĩa binh hưởng ứng dụ Cần Vương ở Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai) là Đào Doãn Địch. Ông sinh năm Quý Tỵ (1833), người làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay thuộc xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai.

Ngày 5.7.1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), ban chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân đứng lên chống Pháp. Đào Doãn Địch được Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, người cầm đầu phe chủ chiến trong triều đình, sai về Bình Định, làm nhiệm vụ phổ biến chiếu Cần Vương, thăm dò tình hình địch và tổ chức lực lượng kháng chiến.

Lối vào một pháo đài trong thành Bình Định, nơi nghĩa quân Cần Vương Bình Định từng đánh chiếm vào năm 1885. ẢNH: TƯ LIỆU THẬP NIÊN 1920

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Lê Thành Phương và cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên

Tháng 7.1885, khi chiếu Cần Vương được đưa đến Phú Yên, nhiều sĩ phu, văn thân yêu nước đứng ra thành lập các đạo quân ứng nghĩa để chống giặc, trong đó có Thống soái Bình Tây Lê Thành Phương.

Thủ lĩnh nghĩa quân tài ba

Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh, tỉnh Phú Yên cũ (nay là thôn Mỹ Phú, xã Ô Loan, tỉnh Đắk Lắk), là con thứ sáu trong 8 người con của cụ ông Lê Thanh Cao và cụ bà Nguyễn Thị Minh.

Đền Lê Thành Phương. Ảnh: Tư liệu Ban quản lý

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Quyết tử chiến đấu ở căn cứ Ba Đình

Cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất bại, nhưng tên tuổi Đinh Công Tráng và các nghĩa sĩ Cần Vương mãi mãi khắc ghi vào lịch sử giữ nước oai hùng.

Ông Chánh tổng yêu nước

Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần (1842), tại làng Tràng Xá, nay là xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình. Khi Pháp đưa quân xâm chiếm Bắc kỳ lần thứ 2 (năm 1882), Đinh Công Tráng (khi đó đang là Chánh tổng) tình nguyện gia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm, rồi tham gia trận Cầu Giấy ngày 19.5.1883, đánh bại đội quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy.

Đinh Công Tráng. Ảnh: T.L

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy

Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, hai thủ lĩnh Đinh Gia Quế và Nguyễn Thiện Thuật đã lãnh đạo người dân vùng Bãi Sậy (Hưng Yên) đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Cờ nghĩa của Đinh Gia Quế

Đinh Gia Quế (1825 - 1885), còn được biết đến với tên gọi Đổng Quế, là vị thủ lĩnh tối cao đầu tiên của phong trào vũ trang chống Pháp tại Bãi Sậy vào cuối thế kỷ 19. Ông sinh ngày 10.12.1825 (tức ngày 1.11 năm Ất Dậu) tại làng Nghiêm Xá, phủ Thường Tín (nay thuộc TP.Hà Nội). Thuở còn trẻ, Đinh Gia Quế theo con đường Nho học và đỗ Khóa sinh. Sau đó, ông chuyển đến làng Thọ Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) để dạy học, rồi thăng tiến qua các chức vụ Chánh tổng và Chánh tuần huyện Đông Yên.

Nguyễn Thiện Thuật. Ảnh: Tư liệu

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025) Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên

Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên trong cả nước nổ ra tại Quảng Ngãi do Chánh tướng Lê Trung Đình cùng hai phó tướng là Nguyễn Tự Tân và Nguyễn Tấn Kỳ lãnh đạo.

Ba vị thủ lĩnh

Lê Trung Đình hiệu là Long Cang, sinh năm Đinh Tỵ (1857), người làng Phú Nhơn, nay thuộc phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi. Ông thi đỗ cử nhân khoa Giáp Thân (1884) ở trường thi Hương Bình Định. Là người dũng lược và có uy tín, Lê Trung Đình được văn thân Quảng Ngãi cử làm Chánh quản hương binh, sau đó lại được Nguyễn Duy Cung - lúc bấy giờ đang giữ chức Tham biện sơn phòng Nghĩa Định, bí mật cử ra kinh đô yết kiến người cầm đầu phe chủ chiến là đại thần Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh tổ chức lực lượng và xây dựng kế hoạch chuẩn bị chống Pháp.

Nhà thờ Lê Trung Đình. Ảnh: LHK

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương

Sau khi dẹp được phe chủ hòa, khống chế triều nội, phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tích cực chuẩn bị lực lượng đánh Pháp. Căn cứ Tân Sở ở miền núi Quảng Trị được xây dựng để tính kế lâu dài.

Kinh thành thất thủ

Về phía Pháp, cuối tháng 5.1885, tướng De Courcy được bổ làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung kỳ. Ngày 2.7.1885, De Courcy đến Huế, mang theo một tiểu đoàn lính Phi châu cùng những yêu sách ngang ngược như yêu cầu Nam triều ra lệnh cho sĩ phu và dân chúng tuân phục hoàn toàn chính thể bảo hộ, đặt điều kiện là khi phái đoàn vào đến Hoàng thành, vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng đích thân ra đón. Ngoài ra còn đòi tất cả nhân viên trong phái đoàn của Pháp phải được đi vào Đại Nội bằng cửa chính Ngọ Môn. Sự ngạo mạn của phía Pháp khiến phe chủ chiến tức giận và quyết định ra tay trước.

Vua Hàm Nghi. ẢNH: TƯ LIỆU

140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Triều đình rối ren, đất nước rơi vào tay giặc

140 năm đã trôi qua từ ngày đại thần Tôn Thất Thuyết, lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất, và sau đó vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần thứ hai, làm bùng lên phong trào yêu nước đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược với hàng loạt cuộc khởi nghĩa của sĩ phu văn thân và nhân dân VN.

Năm 1883, vua Tự Đức băng hà sau 36 năm trị vì. Cái chết của ông vua này, cùng những mâu thuẫn vốn sẵn trong triều nội, đã góp phần đẩy đất nước vào một giai đoạn bi đát.

Tiếng súng xâm lăng ở Đà Nẵng

Ngày 31.8.1858, lấy cớ bảo vệ quyền lợi thương mại và truyền giáo, liên quân Pháp và Tây Ban Nha do Phó đô đốc Charles Rigault De Genouilly chỉ huy đưa chiến thuyền đến ngoài khơi Đà Nẵng và hôm sau 1.9.1858, chúng tấn công chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm đất nước ta của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

QUÂN PHÁP TẤN CÔNG CỬA ĐÔNG - NAM THÀNH HÀ NỘI NGÀY 20.11.1873
ẢNH MINH HỌA CỦA ANDRÉ MASSON TRONG HANOÏ PENDANT LA PÉRIODE HÉROÏQUE (1873-1888), PARIS, 1929

22 thg 1, 2026

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Những địa danh huyền thoại

Trong biên khảo Tìm hiểu đất Hậu Giang, nhà văn Sơn Nam chép: "Cà Mau do tiếng Tuk Khmâu (nước đen), gọi trại Khmâu thành Cà Mau. Ở sông Cái Tàu (U Minh Hạ) còn gia phả của họ Đào, là họ xưa nhứt và đông đảo nhứt. Nhưng chúng tôi chưa được xem. Chỉ nghe nói họ Đào đến Tắc Thủ trước thời Gia Long tẩu quốc".

Tên Cà Mau có từ khi nào ?

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép Hà Tiên tục gọi Mang Khảm, người Việt gọi Phương Thành. Năm 1680, vì bất phục nhà Thanh, Mạc Cửu đem gia đình từ phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, chạy về phương Nam… Mạc Cửu thấy ở phủ Sài Mạt có đông người Việt, người Hoa, Cao Miên, Chà Và tụ tập mở sòng bạc thu thuế, gọi là thuế hoa chi, mới lãnh thầu thuế ấy, lại đào được bạc chôn, trở nên giàu có. Mạc Cửu bèn chiêu mộ dân lưu tán người Việt lập thành 7 xã thôn ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau. Tương truyền xứ này thường thấy tiên hiện trên sông, nên gọi là Hà Tiên. Rồi sai thuộc hạ mang biểu văn tới kinh đô Phú Xuân dâng trình, xin làm người đứng đầu xứ.

Trên sông Trèm Trẹm. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Cà Mau có cái Ao Vua

Cà Mau xưa có một xóm gọi là xóm Ao Kho. Tương truyền, nơi đây có cái ao do chúa Nguyễn Ánh ra lệnh đào để lấy nước ngọt cho binh lính sử dụng trong thời gian đồn trú ở vùng này.

Dấu tích Ao Kho hiện không còn, nhưng gần đó có nhà thờ Ao Kho cạnh sông Gành Hào, nay thuộc P.Hòa Thành, Cà Mau.

Nhà tôi xưa ở đất vua…

Bà Bảy Hòa (78 tuổi) nhớ lại: "Vị trí Ao Kho cách đường Huỳnh Thúc Kháng hiện nay hơn 100 m, nhưng bây giờ đã là vườn và ao nuôi tôm của người dân. Gia đình tôi ở xóm này xưa lắm. Lúc 10 tuổi, má tôi thường sai tôi tới Ao Kho gánh nước về xài. Ao rất sâu, rộng khoảng 1 công đất, nước rất trong và ngọt. Bờ ao có hai chỗ xây bậc thang bằng đá để bà con lên xuống gánh nước cho tiện. Ở đây mỗi năm sông Gành Hào có 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt. Vào mùa nước mặn, đầu trên xóm dưới đều nhờ vào cái ao đó. Người ta lấy nước rất đông nhưng nước trong ao không bao giờ cạn. Khi lớn lên, tôi mới nghe kể lại sự tích, đó là cái Ao Vua".

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Độc đáo tiệc làng ở miếu Ông Bổn

Miếu Ông Bổn xưa có tên là Phước Lãnh Miếu (còn gọi là chùa Ông Bổn) do người Hoa tạo lập. Đây là hội quán của bang Phước Kiến, thờ Phước Đức Chánh Thần, vị thần chủ quản xã thôn bang hội, tương tự như Bổn Cảnh Thành Hoàng của người Việt.

Ngôi miếu xưa 170 năm

Miếu Ông Bổn tọa lạc trên đường Trương Phùng Xuân, P. Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau. Cổng chính lợp mái ngói cong, trang trí hình rồng ở đỉnh. Phần trên của cổng có hàng chữ Hán màu vàng nổi bật trên nền đỏ: Phước Đức Miếu. Bên dưới là dòng chữ quốc ngữ ghi: Miếu Ông Bổn. Ở gian chánh điện, hai bên cột có câu đối viết bằng chữ Hán ca ngợi Phước Đức Chánh Thần ban sự may mắn bình an cho người dân.

Cổng miếu Ông Bổn. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Truyền thuyết miếu Bà Thiên Hậu

Miếu Bà Thiên Hậu (còn gọi là chùa Bà Mã Châu) là cơ sở tín ngưỡng, đồng thời là Hội quán của các bang Triều Châu, Hải Nam và Quảng Đông (người Hoa) tọa lạc trên đường Lê Lợi, P.An Xuyên, Cà Mau.

Ngôi miếu qua 3 thế kỷ

Thiên Hậu cung, theo bức hoành viết bằng chữ Hán treo giữa cửa vào chánh điện, có lối kiến trúc tương tự kiến trúc phổ biến ở các ngôi chùa miếu người Hoa, theo mô hình "tứ hợp viện" được bố cục theo hình chữ nhật, lấy trục dọc làm trục đối xứng với quần thể gồm tiền điện, sân thiên tĩnh, hương đình, chánh điện và hai dãy nhà dọc hai bên gọi là đông lang và tây lang. Vật liệu trong gian chánh điện hầu hết làm bằng gỗ quý, chạm trổ tinh vi sắc sảo.

Theo lời của các vị trong Ban trị sự, ngôi miếu này ngày xưa gọi là miếu Bà Mã Châu. Miếu được xây dựng từ năm 1882, đầu tiên là một mái lá đơn sơ để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu; đến năm 1903 được trùng tu, xây cất quy mô. Việc thờ tự được xác nhận ở cổng chùa qua câu đối viết bằng chữ Hán chiết tự hai chữ Thiên Hậu: Thiên ân vĩnh tích kiều cư lạc/ Hậu đức trường lưu miếu mạo tôn.

Cổng miếu Bà Thiên Hậu. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Tri huyện 'Thần Minh nhứt xứ'

Nằm một dải trên đường Nguyễn Thiện Năng (P.An Xuyên, Cà Mau), ngoài đình Tân Xuyên, chùa Phật Tổ, miếu Ngũ Hành, còn có miếu Ông Thần Minh. Đây là ngôi miếu thờ vị quan huyện thanh liêm, hết lòng vì dân.

Trấn áp vụ trộm nổi loạn

Vào thời vua Minh Mạng, đất Cà Mau thuộc H.Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên, có quan Tri huyện tên là Nguyễn Văn Năng, người đời sau gọi là Nguyễn Thiện Năng (có tài liệu chép là Nguyễn Hiền Năng) được người dân kính trọng, tôn thờ là "Ông Thần Minh".

Sách Đại Nam thực lục chính biên chép, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) người Thanh (tức Hoa kiều) ở phố Lạc Dục, H.Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên là Lâm Đại Mạnh, Lâm Nhĩ, Trịnh Đại Nô tự xưng là nhất ca, nhị ca, tam ca, tụ họp đến vài trăm quân giết viên Tri huyện Nguyễn Văn Năng cùng với vợ con và môn thuộc đến 12 người. Cùng lúc, người Thanh ở phố Lạc Tân là Trịnh Thần Thông và Trần Biện tự xưng là chánh phó thống binh, cùng với bọn Lâm Đại Mạnh kết làm bè đảng, cướp bóc dân lành.

Cổng Thần Minh Miếu. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Chuyện xưa ở Âm Dương thần miếu

Âm Dương thần miếu là một trong những di tích xưa, tương truyền có từ thời vua Gia Long mới lên ngôi. Tuy nhiên, hiện nay các hiện vật liên quan đến ngôi miếu không còn nên rất khó truy nguyên nguồn gốc.

Dấu tích ngôi miếu xưa

Ngôi miếu có diện tích khá khiêm tốn, tọa lạc trên đường Quang Trung, P.Tân Thành, Cà Mau, với nhiều tên gọi khác nhau, như: miếu Gia Long, miếu Quốc Công và Âm Dương thần. Bà Châu Kim Yến, người lo việc thắp hương, quét dọn, cho biết hồi xưa ngôi miếu nằm trong khuôn viên Trường tiểu học Quang Trung bên cạnh. Khi xây trường học, miếu được dời ra chỗ hiện nay.

Ở trước miếu có tấm biển đề Âm Dương thần. Bài vị trên bàn thờ chính cũng ghi Đại Nam Âm Dương Vị Tôn Thần. Hai bên cửa ra vào có câu đối viết bằng chữ quốc ngữ: "Một thuở thân đền non nước Việt/Ngàn thu danh rạng đất trời Nam". Bên trong có bàn thờ Tả ban, Hữu ban và bàn thờ Tiền hiền tương tự nghi thức thờ cúng ở các đình làng.

Miếu Âm Dương thần Cà Mau

Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Cổ tích ngã ba sông Giồng Kè

Ngã ba sông Giồng Kè là khu vực giáp ranh giữa P. An Xuyên với 2 xã Tân Lộc và Hồ Thị Kỷ, tỉnh Cà Mau. Ở đây có cơ sở thờ tự nổi tiếng là đình Tân Lộc và miếu thờ liệt nữ Nguyễn Thị Nương. Đặc biệt là khu mộ Bà Đệ huyền thoại, người dân địa phương đã lấy tên bà đặt cho địa danh xóm Bà Đệ và ngã ba sông Bà Đệ.

Bà mụ đỡ đẻ cho… cọp

Tọa lạc trên phần đất hơn 4.000 m² thuộc ấp 4, xã Tân Lộc, cổng chính đình Tân Lộc hướng ra sông Giồng Kè (còn gọi là kinh xáng Bạch Ngưu). Ông Hồ Thành Sơn, Trưởng ban trị sự, kể lại: "Tôi năm nay 82 tuổi và đã gắn bó với ngôi đình này từ năm 14 tuổi. Thuở nhỏ, tôi làm học trò lễ trong các dịp cúng đình. Ngôi đình xưa ở khu vực cầu số 5, cách ngôi đình hiện tại khoảng 5 km. Thời chiến tranh, đình bị lính Tây đốt chỉ còn cái nền. Năm 1992, người dân xin cất lại, nhưng nền đất cũ đã xây trường học rồi nên phải dời tới đây". Theo sắc thần được vua Tự Đức sắc phong ngày 2.11.1852, đình Tân Lộc xưa có tên là đình làng Tân Mỹ, chưa rõ Tân Mỹ đổi thành làng Tân Lộc từ năm nào.

Ngã ba sông Giồng Kè. ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

17 thg 1, 2026

Xóm Đồng Bồ Mưng - căn cứ của lòng dân

Giữa vùng đất Điện Thắng xưa, có một xóm nhỏ bên dòng sông Tứ Câu: xóm Đồng Bồ Mưng - một địa danh bình dị mà thiêng liêng, đã trở thành căn cứ của lòng dân, nơi nuôi giấu, che chở cán bộ cách mạng suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ.

Cây cổ thụ đánh dấu địa điểm hầm bí mật năm xưa tại xóm Đồng Bồ Mưng. Ảnh: H.S

Xóm Đồng Bồ Mưng nằm phía đông làng, bắc giáp sông Tứ Câu, đông giáp Điện Ngọc, nam giáp làng Viêm Tây - nay là khối phố Bồ Mưng 2, phường Điện Bàn Bắc, Đà Nẵng.

5 thg 1, 2026

Nhà thờ Con Gà và mối tình trong 'Bài thánh ca buồn'

Mỗi mùa Noel, giai điệu Bài thánh ca buồn của nhạc sĩ Nguyễn Vũ lại cất lên trong tâm thức nhiều thế hệ yêu nhạc Việt. Ít ai biết ca khúc của mùa Giáng sinh này gắn liền với hình ảnh nhà thờ Con Gà - một kiến trúc đặc biệt giữa phố núi Đà Lạt (Lâm Đồng).

Không chỉ là công trình kiến trúc tôn giáo, nơi đây còn lưu giữ những lớp trầm tích lịch sử, nghệ thuật và câu chuyện về tinh thần cộng đồng.

Tên chính thức của nhà thờ Con Gà là nhà thờ Chính tòa Đà Lạt, tước hiệu Thánh Nicôla Bari. Công trình được khởi công ngày 19.7.1931. Từ buổi ban đầu ấy, ngôi thánh đường đã gắn chặt với hành trình hình thành và phát triển của đô thị cao nguyên.

Chuyện 'người đàn bà hóa đá' trên dãy núi Bà ở biển Gia Lai

Hòn Vọng Phu trên núi Bà, xã Cát Tiến (Gia Lai) gắn với truyền thuyết người đàn bà hóa đá, biểu tượng lòng thủy chung bên biển miền Trung.

Đá vọng phu

Giữa mênh mang gió cát, trên dãy núi Bà thuộc xã Cát Tiến, tỉnh Gia Lai (trước đây thuộc tỉnh Bình Định), có một khối đá mang dáng hình người phụ nữ bế con lặng lẽ hướng mặt ra đại dương. Dân làng gọi khối đá này là đá Vọng Phu. Trải qua ngàn năm nắng gió, đá Vọng Phu không chỉ đứng đó như một hiện tượng địa chất, mà còn như pho sử đá, ghi dấu truyền thuyết buồn về lòng thủy chung, gắn bó bền chặt với đời sống tinh thần của cư dân vùng biển miền Trung.

Trên dãy núi bà có một khối đá mang hình người phụ nữ bế con lặng lẽ hướng mặt ra đại dương. ẢNH: ĐỨC NHẬT