Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo Đà Nẵng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo Đà Nẵng. Hiển thị tất cả bài đăng

15 thg 6, 2026

Món ngon dân dã từ kiến

Đối với đồng bào các dân tộc miền núi xứ Quảng, côn trùng là một trong những nguồn nguyên liệu quan trọng để chế biến các món ăn. Những loại côn trùng như mối, dế cơm, đuông, cào cào, châu chấu, ve sầu, bò cạp, đặc biệt là kiến được khai thác khá phổ biến để làm thức ăn.

Người dân dùng nia để làm sạch, lấy kiến và trứng kiến chế biến món ăn. Ảnh: T.T.V

14 thg 6, 2026

Mì tôm mực níu chân du khách

Thời gian gần đây, món mì tôm mực ở các quán ven đường Võ Nguyên Giáp - Hoàng Sa bất ngờ trở thành một trong những trải nghiệm ẩm thực được nhiều du khách tìm kiếm khi đến Đà Nẵng.

Tô mì tôm mực có giá từ 40.000 đến 50.000 đồng. Ảnh: GIA MINH

Chỉ là gói mì tôm quen thuộc kết hợp mực tươi được đánh bắt trong ngày, nhưng bằng cách chế biến đậm chất miền biển, món ăn dân dã này đang dần tạo nên sức hút riêng.

Mặn mà xứ Quảng

Trong ký ức của nhiều người Quảng, bữa cơm không thể thiếu chén mắm. Mắm nhỉ dằm trái ớt xanh. Mắm nêm pha tỏi giã...

Nước mắm Nam Ô tạo nên linh hồn của món "gỏi cá Nam Ô" trứ danh. Ảnh: Bếp nghệ nhân

Chén nước mắm sóng sánh màu hổ phách đặt cạnh đĩa cá hấp cuốn bánh tráng hay đĩa thịt heo luộc còn nghi ngút khói. Thứ vị mặn ấy theo những lớp cư dân mở cõi đi dọc miền Trung, theo ghe thuyền ra biển lớn, rồi lặng lẽ trở thành một phần căn tính của vùng đất.

Giấc mơ từ chân sóng

Vẫn còn đó những làng chài nép mình bên chân sóng, những bãi cát dài hun hút trong gió nồm, những buổi chợ đông khi bình minh chưa tỏ mặt người.

Những hoạt động du lịch tại các làng biển hấp dẫn du khách.

Trong ký ức của nhiều thế hệ, biển vừa là nguồn sống, vừa là nơi gửi gắm niềm tin, nỗi lo và cả những phận đời lênh đênh.

Nhưng ở một chiều kích khác, làng biển bây giờ lại rộn ràng du khách, khi có những người trẻ lựa chọn quay về, kể chuyện của làng.

1 thg 6, 2026

Mặn mòi đất Quảng

Vị mặn trên đất Quảng, không chỉ đọng lại qua những địa danh như Diêm Điền, Nại Hiên, Lỗ Giáng - những nơi lưu dấu nghề muối xưa, mà còn thấm trong một sản vật quý, từng được nhiều thư tịch cổ ghi nhận.

Mặt sau tấm bia Đê ngăn mặn Hoá Khuê (cầu Bờ Quan, phường Ngũ Hành Sơn). Ảnh: N.D.C

Dưới triều Nguyễn, muối trở thành mặt hàng nhà nước quản lý chặt chẽ, có thuế, có kho dự trữ, phản ánh chính sách kinh tế và đời sống của cư dân ven biển xứ Quảng.

Bên dòng Lộ Cảnh Giang

Nhiều lần theo các nhóm làm phim địa chí, từ những trang sách cũ và những chỉ dẫn điền dã, chúng tôi đã đi dọc Lộ Cảnh Giang, một dòng xanh biếc đi qua lịch sử.

Bản đồ sông Cổ Cò nối Đà Nẵng và Hội An (đoạn in đậm song song bờ biển) trong những thế kỷ trước. Ảnh: Tư liệu

11 thg 5, 2026

Điểm hẹn dưới bóng đa An Hải

Mới đây, tôi đi ngang qua cây đa cổ thụ trên đường Nguyễn Công Trứ, phường An Hải. Nhìn cây đa, tôi chợt nhớ tới câu chuyện từ các chiến sĩ trinh sát an ninh quận 3 kể về một cô gái xinh đẹp, có sức chịu đựng phi thường với đòn roi hung bạo của kẻ thù.

Cô Trần Thị Tiết thời trẻ. Ảnh: Tư liệu

Dưới gốc đa này, cô Trần Thị Tiết đã nhiều lần cung cấp các thông tin tuyệt mật trong nội bộ chính quyền Việt Nam cộng hòa, đặc biệt là các thông tin liên quan đến bộ máy đàn áp của địch tại Đà Nẵng.

Chuyện đặt tên làng xưa ở xứ Quảng

Tên làng (thôn, xã, phường, châu) là một thành tố quan trọng của bản sắc văn hóa. Không đơn thuần là tên đơn vị hành chính, tên làng là ký ức, sợi dây kết nối, nguồn lực tinh thần vô giá của cộng đồng dân cư trong làng.

Tên gọi của những ngôi làng xứ Quảng góp phần làm nên bản sắc của làng . Ảnh: L.T.K

Làng người Việt ở Quảng Nam được thành lập cùng với quá trình xác lập cương vực của quốc gia Đại Việt bắt đầu từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, tài liệu sớm nhất đề cập đến tên các làng ở Quảng Nam là sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An được viết vào năm 1553. Đây là thư tịch cổ quý giá ghi chép 66 làng vùng Nam Hải Vân thuộc phía Bắc của tỉnh Quảng Nam xưa, trong đó có nhiều làng nổi tiếng như Phiếm Ái, Ái Nghĩa (Ái Đái), Túy Loan (Thúy Loan), Cẩm Toại (Kim Toại), Cẩm Lệ, Câu Nhi…

7 thg 5, 2026

Vị tiền hiền làng Trang Điền

Làng Trang Điền nằm về phía nam sông Vu Gia, trước đây thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng. Nơi đây tọa lạc ngôi mộ vị Tiền hiền của làng giữa cánh đồng lộng gió, như một minh chứng về công lao khai sơn phá thạch, khai canh, khai cư của cha ông ta trên hành trình mở cõi về phương Nam 555 năm trước…

Cổ chỉ lập ngày 30/10 năm Minh Mạng thứ 11 (1830) được tộc Nguyễn Văn làng Trang Điền cất giữ gần 2 thế kỷ. Tư liệu do tộc Nguyễn Văn cung cấp.

6 thg 5, 2026

Về nhân vật “Đội Đóa” trong khởi nghĩa Duy Tân

Có một nhân vật ở đất Quảng từng đóng vai trò quan trọng trong Cuộc khởi nghĩa vua Duy Tân năm 1916 tưởng chừng bị lịch sử quên lãng, song thật may mắn sau hơn một thế kỷ hành trạng của ông dần được “giải mã”…

Mộ cụ Đội Đóa tại làng Hóa Trung, thôn Phú Hòa, xã Đại Lộc. Ảnh: VT.

Làng Hội An ở Sơn Cẩm Hà

Văn hóa làng được gìn giữ giữa dòng chảy hối hả của thời gian để Hội An giữa lòng xứ núi Sơn Cẩm Hà luôn được nhắc nhớ. Với những nhà cổ được gìn giữ bao đời, với lễ hội Kỳ Yên đặc sắc mỗi dịp Giỗ Tổ, để đứa con xa xứ được trở về sống trong mạch nguồn xứ sở.

Đình làng Hội An hiện nay còn lại hai kiến trúc gồm chính diện là ngôi nhà tự Hiền, kế bên là nhà kho. Ảnh: DIỄM LỆ

5 thg 5, 2026

Sắc lụa xứ Quảng qua tư liệu xưa

Từ những ghi chép của các nhà du hành, truyền giáo và học giả xưa đã mở ra một bức tranh sinh động về trang phục của người dân xứ Quảng trong lịch sử: rực rỡ, cầu kỳ và giàu tính biểu tượng.

Một nhóm cư dân bên vịnh Đà Nẵng cuối thế kỷ 18. Nguồn: John Barrow

Ký ức “vùng đất lửa” Ao Lầy

Căn cứ Ao Lầy (xã Kỳ Thịnh, huyện Bắc Tam Kỳ, nay là xã Chiên Đàn) từng được mệnh danh là “vùng đất lửa” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Ông Trần Nhật Cân, nguyên Xã đội trưởng xã Kỳ Thịnh (bên phải) cùng đồng đội đến thăm Bia Di tích lịch sử Căn cứ Ao Lầy. Ảnh: N.ĐOAN

Di sản Huỳnh Thúc Kháng từ Tiếng Dân

Hành trình của cụ Huỳnh và tờ Tiếng Dân là chương rực rỡ trong lịch sử công nghiệp văn hóa Việt Nam - nơi "hồn cốt" của xứ sở được chuyển tải một cách khoa học và tâm huyết vào những trang giấy...

Tòa soạn báo Tiếng Dân tại đường Đông Ba, nay là đường Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Huế. Ảnh: Tư liệu

18 thg 4, 2026

Ngựa của tướng quân Phạm Kiệt

“Xuống ngựa buộc cương nở nụ cười/Tiếng gà giục giã hết canh tư/ Người sau bước tiếp, người đi trước/ Thơ đến chào xuân, đã mấy mươi” - bài thơ hồi ức về ngựa ở Liên khu 5 của cụ bà Phạm Thị Trinh vẫn còn nhiều người thuở chiến khu nhớ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên lưng ngựa đi thị sát Chiến dịch biên giới. Thời chống Pháp, phần lớn các chỉ huy chiến trường đều đi ngựa để thị sát chiến trường Ảnh: Tư liệu

Thời chống Pháp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Võ Chí Công, Nguyễn Chánh, Nguyễn Sơn đều cưỡi ngựa thị sát mặt trận. Con ngựa Hồng Tía của Phạm Kiệt khá nổi tiếng.

17 thg 4, 2026

Cu Đê - Hải Vân: Trạm dừng suy tưởng

Dưới chân đèo Hải Vân hùng vĩ, có một điểm dừng chân lặng lẽ đã đi vào thơ của danh sĩ Phan Thanh Giản, người từng giữ chức Bố chính ở Quảng Nam.

Bản đồ cổ đèo Hải Vân của tác giả Nguyễn Huy Quýnh, thế kỷ 18.

Hành trình nghỉ chân Cu Đê, vượt đèo Hải Vân của Phan Thanh Giản là một cuộc hành trình nội tâm đầy suy tưởng, nơi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ hòa quyện với tâm trạng của một kẻ sĩ trên đường công cán, mang theo nỗi niềm thời thế.

Truông Vực Rắn ở vùng đất Quảng Nam xưa

Hiện nay trong dân gian xứ Quảng vẫn nhắc tới khá nhiều truông như truông Phường Rạnh, truông Nông Sơn (Nông Sơn), truông Dài (Tam Kỳ), truông Sứ, truông Nước (Duy Xuyên, Quế Sơn), truông Tranh (Hòa Vang)... mà ít người biết đến truông Vực Rắn - một cánh truông lớn của vùng đất Quảng Nam xưa.

Một góc đường qua truông Vực Rắn xưa

16 thg 4, 2026

Chợ Trạm dưới bóng thời gian

Dưới bóng thời gian ngàn năm xứ Quảng, chợ Trạm (xã Núi Thành) là chứng nhân bản địa của sự kết nối địa lý, văn hóa, thương mại nơi phía Nam sông Tam Kỳ, gắn với địa danh lịch sử trạm Nam Vân - điểm dừng chân của thương nhân lữ khách thời nhà Nguyễn.

Chợ Trạm Núi Thành hiện nay.

Sân bay Đà Nẵng - mắt xích chiến lược trên bầu trời Đông Dương

Trong lịch sử hàng không Đông Dương giai đoạn đầu thế kỷ 20, nếu sân bay Gia Lâm (Hà Nội) và Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) được ví như hai đầu cầu bận rộn, thì sân bay Tourane (Đà Nẵng) chính là “viên gạch nối” quyết định sự vận hành của toàn bộ hệ thống.

Sân bay quốc tế Đà Nẵng. Ảnh: THÀNH LÂN

Dựa trên những cứ liệu từ công trình “The Hopes and the Realities of Aviation in French Indochina, 1919 - 1940” của Gwendolyn Linda Wright, hình ảnh sân bay Tourane không chỉ là điểm dừng chân có tính kỹ thuật, mà còn là một mắt xích chiến lược trong tham vọng chinh phục bầu trời Đông Dương của người Pháp.

18 thg 1, 2026

Đồ án sân bay Đà Nẵng năm 1974

Các kiến trúc sư, nhà nghiên cứu lịch sử và các nhà lãnh đạo, quản lý của thành phố đều thống nhất nhận định rằng, Đà Nẵng có tính chất là một đô thị sân bay.

Sân bay Đà Nẵng chính thức khánh thành ngày 2/5/1929. Thư viện Quốc gia Pháp.

Xét trong tiến trình lịch sử thành phố, tính chất đô thị sân bay dần hình thành, bắt đầu từ những năm 1940 khi quân Nhật đóng quân, ưu tiên mở rộng sân bay Đà Nẵng và tiếp nối đến thời kỳ quân đội Mỹ chiếm đóng đến năm 1975.

Trong đó một câu chuyện chưa được nhắc đến là việc kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa với đồ án kiến trúc nhà ga sân bay Đà Nẵng năm 1974 - một mốc thời gian mà khi đọc lên chúng ta liền nghĩ đến sự “bất thành” của nó.