28 thg 2, 2026
Khám phá phiên chợ chỉ họp một lần trong năm của người theo đạo Hồi tại TPHCM
Chiều 21/2, hàng trăm người dân TPHCM đổ về hẻm 157 Dương Bá Trạc (phường Chánh Hưng) tham dự phiên chợ đặc biệt chỉ họp một lần trong năm.
Ngôi làng cổ dưới chân núi Chư Mom Ray
Làng Ba Rờ Gốc, xã Sa Thầy, tỉnh Quảng Ngãi nằm nép mình dưới chân dãy núi Chư Mom Ray hùng vĩ. Trải qua nhiều biến chuyển của thời gian, nhưng nơi đây vẫn gìn giữ được những nét văn hóa đặc trưng riêng có cộng đồng người Gia Rai.
Chợ phiên Lộc Bình: Rực rỡ sắc màu vùng biên
Tới chợ phiên Lộc Bình - một trong những phiên chợ cổ xưa nhất của tỉnh Lạng Sơn, du khách không chỉ mua được những đặc sản vùng cao mà còn được trải nghiệm đời sống văn hoá phong phú của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao...
Ngay từ khi sương sớm còn giăng, bà con người Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ… đã tụ hội về khu chợ nhỏ bên dòng sông Kỳ Cùng (cách thành phố Lạng Sơn hơn 20 km). 5 ngày chợ họp một phiên (vào các ngày 1, 6, 11, 16, 21, 26 âm lịch).
Chợ phiên Lộc Bình được xem là một trong những phiên chợ cổ xưa nhất của tỉnh Lạng Sơn, đã tồn tại hàng trăm năm nay, là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng độc đáo, thể hiện rõ bản sắc văn hóa các dân tộc sống trên mảnh đất này.
Ngay từ khi sương sớm còn giăng, bà con người Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ… đã tụ hội về khu chợ nhỏ bên dòng sông Kỳ Cùng (cách thành phố Lạng Sơn hơn 20 km). 5 ngày chợ họp một phiên (vào các ngày 1, 6, 11, 16, 21, 26 âm lịch).
Chợ phiên Lộc Bình được xem là một trong những phiên chợ cổ xưa nhất của tỉnh Lạng Sơn, đã tồn tại hàng trăm năm nay, là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng độc đáo, thể hiện rõ bản sắc văn hóa các dân tộc sống trên mảnh đất này.
Chợ phiên vùng cao Ba Chẽ rộn ràng trước thềm năm mới
Khu chợ trung tâm xã vùng cao Ba Chẽ (Quảng Ninh) rộn ràng từ rất sớm. Không chỉ là nơi mua bán, chợ phiên nơi đây đang trở thành điểm hẹn văn hóa, nơi nhịp sống, bản sắc và hơi thở núi rừng được đánh thức giữa đời sống hiện đại.
Khác với những phiên chợ thường nhật, chợ phiên Ba Chẽ được tổ chức định kỳ hai phiên mỗi tháng, vào thứ Bảy tuần đầu và tuần thứ ba. Phiên chợ đầu tiên diễn ra trong hai ngày 6 và 7/2/2026 (tức 19, 20 tháng Chạp), đúng thời điểm người dân vùng cao chuẩn bị đón Tết. Bởi thế, không khí chợ càng thêm rộn ràng, ấm áp, như một cuộc hẹn quen của núi rừng trước thềm năm mới.
Không gian chợ mở ra giữa lòng xã Ba Chẽ, nơi người Dao, Sán Chỉ, Tày, Kinh… cùng hội tụ. Từ sáng sớm, từng tốp người gùi hàng xuống chợ. Những mớ rau rừng còn đẫm sương, những bó dược liệu phơi khô, nải chuối rừng, mớ cá suối tươi rói hay con gà đồi được buộc gọn gàng… tất cả làm nên bức tranh sinh động của đời sống vùng cao. Mỗi gian hàng không chỉ bày bán sản phẩm, mà còn kể câu chuyện về núi rừng, về tập quán canh tác và cách người Ba Chẽ gìn giữ sinh kế qua bao thế hệ.
Khác với những phiên chợ thường nhật, chợ phiên Ba Chẽ được tổ chức định kỳ hai phiên mỗi tháng, vào thứ Bảy tuần đầu và tuần thứ ba. Phiên chợ đầu tiên diễn ra trong hai ngày 6 và 7/2/2026 (tức 19, 20 tháng Chạp), đúng thời điểm người dân vùng cao chuẩn bị đón Tết. Bởi thế, không khí chợ càng thêm rộn ràng, ấm áp, như một cuộc hẹn quen của núi rừng trước thềm năm mới.
Không gian chợ mở ra giữa lòng xã Ba Chẽ, nơi người Dao, Sán Chỉ, Tày, Kinh… cùng hội tụ. Từ sáng sớm, từng tốp người gùi hàng xuống chợ. Những mớ rau rừng còn đẫm sương, những bó dược liệu phơi khô, nải chuối rừng, mớ cá suối tươi rói hay con gà đồi được buộc gọn gàng… tất cả làm nên bức tranh sinh động của đời sống vùng cao. Mỗi gian hàng không chỉ bày bán sản phẩm, mà còn kể câu chuyện về núi rừng, về tập quán canh tác và cách người Ba Chẽ gìn giữ sinh kế qua bao thế hệ.
27 thg 2, 2026
Làng bánh in nổi tiếng Đà Nẵng gõ 'lốc cốc' từ 2h sáng để kịp đơn hàng Tết
Cận Tết, làng bánh in nổi tiếng Đà Nẵng lại rộn ràng bước vào vụ sản xuất lớn nhất trong năm. Nhiều gia đình phải thức từ 2h sáng, làm việc thâu đêm để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Cả làng "đua nhau gõ lốc cốc" từ 2h sáng
Làng An Lạc (xã Duy Nghĩa, TP Đà Nẵng) từ lâu nổi tiếng với nghề làm bánh in – loại bánh dân dã, quen thuộc với người dân miền Trung. Mỗi dịp Tết đến, trên bàn thờ tổ tiên của nhiều gia đình không thể thiếu vài gói bánh in đặt trang trọng bên cạnh mâm ngũ quả. Chính thói quen này khiến nhu cầu tiêu thụ bánh in luôn tăng mạnh vào dịp cuối năm.
Toàn làng An Lạc hiện có hơn 20 cơ sở gắn bó thường xuyên với nghề làm bánh in, hầu hết chỉ hoạt động rộn ràng trong khoảng một tháng cận Tết. Ngoài ra, vào thời điểm nông nhàn cuối năm, nhiều gia đình khác cũng tranh thủ tham gia sản xuất, nhận gia công cho các cơ sở lớn hoặc làm nhỏ lẻ tại nhà để tăng thêm thu nhập.
Cả làng "đua nhau gõ lốc cốc" từ 2h sáng
Làng An Lạc (xã Duy Nghĩa, TP Đà Nẵng) từ lâu nổi tiếng với nghề làm bánh in – loại bánh dân dã, quen thuộc với người dân miền Trung. Mỗi dịp Tết đến, trên bàn thờ tổ tiên của nhiều gia đình không thể thiếu vài gói bánh in đặt trang trọng bên cạnh mâm ngũ quả. Chính thói quen này khiến nhu cầu tiêu thụ bánh in luôn tăng mạnh vào dịp cuối năm.
Toàn làng An Lạc hiện có hơn 20 cơ sở gắn bó thường xuyên với nghề làm bánh in, hầu hết chỉ hoạt động rộn ràng trong khoảng một tháng cận Tết. Ngoài ra, vào thời điểm nông nhàn cuối năm, nhiều gia đình khác cũng tranh thủ tham gia sản xuất, nhận gia công cho các cơ sở lớn hoặc làm nhỏ lẻ tại nhà để tăng thêm thu nhập.
Lịch sử cột hải đăng Vũng Tàu
Cột hải đăng ở núi Nhỏ, thành phố Vũng Tàu được người Pháp khởi công thực hiện xây móng vào ngày 20.3.1862. Ngày 25 tháng 3 năm 1862 đặt viên đá đầu tiên và ngày 15.6.1862 được cắt băng khánh thành với nghi thức hết sức trang nghiêm, long trọng, pháo hạm Forbin kéo cờ từ sáng và bắn chào 21 phát đại bác ngoài vịnh Ghềnh Rái (Vũng Tàu).
Phòng trưng bày lưu niệm nhạc sĩ Camille Saint Saens tại di tích Nhà Công Quán
Di tích Nhà Công Quán nằm trong quần thể kiến trúc thị trấn tù do thực dân Pháp xây dựng vào cuối thế kỷ XIX bằng sức lao động khổ sai của tù nhân nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị tù.
Chức năng đầu tiên của ngôi nhà này là Nhà khách (Maisson de passanger) – nơi dừng chân cho lữ khách đến thi hành công vụ tại đảo. Đến thời Mỹ, ngôi nhà này được xây thêm mặt tiền nhô ra và đặt tên là Công Quán. Di tích nhà Công Quán cũng như các công trình kiến trúc của thị trấn tù là minh chứng cho việc bóc lột sức lao động khổ sai của người tù, là sự so sánh đối lập với kiến trúc ghê rợn của trại giam. Với ý nghĩa đó, di tích Nhà Công Quán được khởi công trùng tu, tôn tạo năm 2005 theo kiến trúc ngôi Nhà khách vãng lai thời Pháp và đã hoàn thành vào cuối năm 2006.
Di tích đình Long Hương ở Bà Rịa
Cách một chiếc cầu bắc qua sông Dinh là Long Hương, một làng quê yên bình mộc mạc với những di tích cổ xưa còn nguyên vẹn.
26 thg 2, 2026
Chùa Tân Quang, Xuân Bính Ngọ
Chùa Gò Sỏi vốn là một ngôi chùa cổ. Cách đây khoảng 200 năm tại khu đất gò sỏi thuộc ấp Cầu Hang xã Hóa An, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, nhân dân trong làng xây dựng nên một ngôi chùa. Thế nên Chùa thường được gọi là Chùa Làng hay Chùa Gò Sỏi.
Thập niên 1970, 1980 nơi chùa tọa lạc gần điểm khai thác đá nên thường bị rung chuyển, sập ngói. Do vậy, năm 1984 dân làng đã làm lễ dời chùa Gò Sỏi về ấp An Hòa, cũng thuộc xã Hóa An và lấy tên là chùa Tân Quang.
Theo thời gian, chùa xuống cấp dần. Tháng 01/2010, ngôi bảo điện chùa Tân Quang được xây dựng lại và chùa được đại trùng tu cho đến ngày hôm nay.
Độc đáo Lễ hội Đại Phan của người Sán Dìu với nghi lễ leo gươm, lội than
Trong hai ngày 31/1 và 1/2 (tức 13 - 14 tháng Chạp), tại đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh) đã diễn ra Lễ hội Đại Phan - một trong những lễ hội dân gian tiêu biểu, mang đậm bản sắc tín ngưỡng của đồng bào Sán Dìu.
Lễ hội Đại Phan được tổ chức với ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, bình yên. Đây không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống mà còn là dịp để cộng đồng gắn kết, thể hiện niềm tin và tri thức dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Lễ hội Đại Phan được tổ chức với ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, bình yên. Đây không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống mà còn là dịp để cộng đồng gắn kết, thể hiện niềm tin và tri thức dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Đình làng hơn 350 tuổi đẹp nhất Xứ Đoài
Đình làng So có lịch sử hơn 350 năm, nằm cách trung tâm Hà Nội 20 km, được đánh giá đẹp nhất Xứ Đoài bởi địa thế, phong cảnh và kiến trúc.
Đình So nằm tại làng So, xã Hưng Đạo (huyện Quốc Oai cũ), cách nội thành Hà Nội khoảng 20 km về phía tây. Đình lần đầu tiên được xây dựng vào năm 1667 (thời Hậu Lê), hơn trăm năm sau được chuyển về ở vị trí hiện nay và khắc bia lưu tại đình vào năm Cảnh Hưng 43 (1782).
Đình tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 4 ha, phía trước là hồ bán nguyệt, phía sau tựa vào núi, tạo nên thế đất hài hòa hiếm có, tựa sơn hướng thủy, phía ngoài xa là cánh đồng bãi ven sông Đáy. Không gian xanh mát, tĩnh lặng, tôn thêm vẻ uy nghiêm và cổ kính cho di tích.
Đình tọa lạc trên khu đất rộng khoảng 4 ha, phía trước là hồ bán nguyệt, phía sau tựa vào núi, tạo nên thế đất hài hòa hiếm có, tựa sơn hướng thủy, phía ngoài xa là cánh đồng bãi ven sông Đáy. Không gian xanh mát, tĩnh lặng, tôn thêm vẻ uy nghiêm và cổ kính cho di tích.
Tết làng - nét văn hóa thiêng liêng của người Dao Thanh Phán
Khi nhiều nơi còn đếm ngược đến Tết Nguyên đán, ở khu Đèo Đọc, phường Hoành Bồ (Quảng Ninh), bà con Dao Thanh Phán đã bước vào một mùa Tết rất riêng - Tết làng. Một cái Tết đến sớm, không rộn ràng mà lặng lẽ, thiêng liêng.
Với người Dao Thanh Phán ở Đèo Đọc, Tết làng là cái Tết của cộng đồng, được thống nhất tổ chức trước Tết Nguyên đán. Dù con cháu đi học tập, làm ăn xa, ai cũng cố gắng thu xếp trở về, sum họp cùng khu trong ngày Tết chung.
Với người Dao Thanh Phán ở Đèo Đọc, Tết làng là cái Tết của cộng đồng, được thống nhất tổ chức trước Tết Nguyên đán. Dù con cháu đi học tập, làm ăn xa, ai cũng cố gắng thu xếp trở về, sum họp cùng khu trong ngày Tết chung.
25 thg 2, 2026
Hai ngôi chùa cổ kề nhau bên hồ Tây
Chùa Tảo Sách và chùa Vạn Niên nằm gần nhau ven hồ Tây, trở điểm đến tâm linh và vãn cảnh quen thuộc của nhiều người dân và du khách mỗi dịp Tết.
Đình An Hòa - Nơi hồn đất, tình người hòa quyện
Đình An Hòa là một trong những ngôi đình cổ được công nhận là di tích lịch sử tại phường Trảng Bàng, Tây Ninh. Đây là một trong những ngôi đình hiếm hoi giữ được vai trò nơi sinh hoạt cộng đồng của đình làng trước đây.
Giữa nhịp sống hiện đại có phần vội vã, đình An Hòa trầm mặc và thân quen như một phần ký ức không thể tách rời của người dân địa phương. Ngôi đình tọa lạc tại khu phố An Phú, phường An Hòa, trong khuôn viên rộng rãi, rợp bóng cây xanh.
Gắn bó...
Trong khuôn viên rợp mát những bóng cây cổ thụ, đình An Hòa luôn mở cửa, trên bàn trà ở hậu đình có bình trà nóng, sẵn sàng mời khách ghé thăm. Sáng nào Ban Khánh tiết đình An Hòa cũng có người đến quét dọn, nấu sẵn bình nước nóng và tưới cây trong khuôn viên đình. Khi nắng lên cao, đình An Hòa với những bóng cây rợp mát, hàng ghế đá và nhà mát lộng gió dưới hàng cây trở thành “điểm hẹn” của nhiều người. Đôi người bạn đến chuyện trò, cũng có người tới chỉ để quét sạch lá cây rụng từ hôm trước. Mái đình trăm tuổi hòa vào nhịp sống hiện đại một cách nhẹ nhàng, như một phần không thể thiếu.
Giữa nhịp sống hiện đại có phần vội vã, đình An Hòa trầm mặc và thân quen như một phần ký ức không thể tách rời của người dân địa phương. Ngôi đình tọa lạc tại khu phố An Phú, phường An Hòa, trong khuôn viên rộng rãi, rợp bóng cây xanh.
Gắn bó...
Trong khuôn viên rợp mát những bóng cây cổ thụ, đình An Hòa luôn mở cửa, trên bàn trà ở hậu đình có bình trà nóng, sẵn sàng mời khách ghé thăm. Sáng nào Ban Khánh tiết đình An Hòa cũng có người đến quét dọn, nấu sẵn bình nước nóng và tưới cây trong khuôn viên đình. Khi nắng lên cao, đình An Hòa với những bóng cây rợp mát, hàng ghế đá và nhà mát lộng gió dưới hàng cây trở thành “điểm hẹn” của nhiều người. Đôi người bạn đến chuyện trò, cũng có người tới chỉ để quét sạch lá cây rụng từ hôm trước. Mái đình trăm tuổi hòa vào nhịp sống hiện đại một cách nhẹ nhàng, như một phần không thể thiếu.
Ngựa trắng - Dấu gạch nối trong hành trình mở cõi
Ở Nam Bộ, ngựa trắng được thờ trong đình, miếu, thường được gọi với cái tên dân dã mà trang nghiêm: Bạch Mã Thái Giám. Đằng sau danh xưng ấy là câu chuyện về hành trình mở đất, phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa và sáng tạo không ngừng của cộng đồng người Việt trong hành trình khai hoang phương Nam.
Chuyện về con đường hạnh phúc tại Tân Trụ
Tại xã Tân Trụ, tỉnh Tây Ninh, có tuyến đường nổi tiếng với 2 hàng cau vua đều tăm tắp. Đường uốn lượn quanh những ruộng lúa, vườn thanh long tạo nên khung cảnh làng quê bình yên, tươi đẹp. Đó chính là đường Ông Đồ Nghị. Theo người dân địa phương, đường mang tên Ông Đồ Nghị là bởi đường dẫn vào “Xóm Ông Đồ”, nơi cụ đồ Lê Văn Nghị thuở xưa từng sinh sống, mở lớp dạy cả văn lẫn võ cho người dân trong vùng.
Ông Lê Văn Nghị sinh năm 1819 tại làng Bình Tịnh, nay thuộc xã Tân Trụ. Sinh ra trong gia đình làm nông, từ nhỏ, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh, thi đỗ Tú tài trong kỳ thi Hương ở Gia Định.
Dưới thời nhà Nguyễn, ông từng làm việc dưới trướng Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương. Trong giai đoạn này, ông được tin tưởng giao phó việc phân định ranh giới, chỉnh đốn hệ thống hành chính xã, ấp cho toàn tỉnh. Chính ông là người đã đặt tên cho nhiều địa danh có chữ “Bình” như: Bình Tịnh, Bình Tâm, Bình Điền, Bình Chánh… với mong muốn về một cuộc sống bình an, thái hòa cho dân.
Ông Lê Văn Nghị sinh năm 1819 tại làng Bình Tịnh, nay thuộc xã Tân Trụ. Sinh ra trong gia đình làm nông, từ nhỏ, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh, thi đỗ Tú tài trong kỳ thi Hương ở Gia Định.
Dưới thời nhà Nguyễn, ông từng làm việc dưới trướng Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương. Trong giai đoạn này, ông được tin tưởng giao phó việc phân định ranh giới, chỉnh đốn hệ thống hành chính xã, ấp cho toàn tỉnh. Chính ông là người đã đặt tên cho nhiều địa danh có chữ “Bình” như: Bình Tịnh, Bình Tâm, Bình Điền, Bình Chánh… với mong muốn về một cuộc sống bình an, thái hòa cho dân.
24 thg 2, 2026
Giữ hồn Tết qua nét liễn đỏ ở Chợ Lớn
Những ngày giáp Tết, các điểm viết liễn ở khu Chợ Lớn (TPHCM) tấp nập khách đến xin chữ như một cách gìn giữ phong tục truyền thống và gửi gắm ước nguyện đầu năm của cộng đồng người Hoa.
Rộn ràng Lễ hội Núi Văn - Núi Võ
Ngày 20-2 (tức mùng 4 tháng Giêng năm Bính Ngọ), xã Vạn Phú tổ chức Lễ hội Núi Văn - Núi Võ với sự tham dự của đông đảo nhân dân địa phương và du khách thập phương...
Điểm hẹn du lịch đền Thắm
Nép mình bên ngã ba sông Cầu thơ mộng, đền Thắm không chỉ là nơi thờ phụng vị nữ tướng Anh hùng trong lịch sử mà còn là không gian văn hóa - tâm linh, điểm đến hấp dẫn của tỉnh Thái Nguyên mỗi độ Xuân về.
Kèn Pí lè: Từ nghi lễ đến mạch nguồn sáng tác
Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Dao, kèn Pí Lè giữ một vị trí đặc biệt. Không đơn thuần là một nhạc cụ, kèn Pí Lè gắn bó mật thiết với những nghi lễ quan trọng nhất của đời người như lễ cưới, lễ Cấp sắc… Bằng tình yêu sâu nặng với văn hóa dân tộc, nhiều nhạc sĩ Thái Nguyên đã tìm đến âm thanh kèn Pí Lè như một mạch nguồn sáng tác quý giá.
23 thg 2, 2026
Núi Cốc - Ba Bể: Vẻ đẹp gắn kết từ thiên nhiên
Hồ Núi Cốc - hồ Ba Bể là sự kết nối tinh tế giữa hai thắng cảnh tiêu biểu của Thái Nguyên, nơi thiên nhiên tạo nên vẻ đẹp, bản sắc riêng và sức hấp dẫn du lịch. Từ mặt hồ phẳng lặng đến núi rừng xanh thẳm, cả hai cùng kể câu chuyện về sự hòa hợp bền vững giữa cảnh quan tự nhiên và con người.
Phong tục đón Tết của người Sán Chỉ ở Bằng Thành
Xã Bằng Thành nằm ở phía Bắc và là xã xa nhất của tỉnh Thái Nguyên (cách trung tâm hành chính của tỉnh gần 200km). Hiện nay, trên địa bàn xã có 7 dân tộc anh em cùng chung sống. Mỗi dịp Tết đến, xuân về, các dân tộc đều có phong tục đón Tết mang đặc trưng riêng, trong đó có phong tục đón Tết của người Sán Chỉ.
Mật ngữ 200 năm tuổi của ngôi làng ngoại thành Hà Nội
Ngoài tiếng phổ thông, người làng Đa Chất, xã Đại Xuyên (huyện Phú Xuyên cũ) có một ngôn ngữ riêng với hàng nghìn từ lóng từng giúp giữ bí mật nghề đóng cối tre.
Bên dòng sông Nhuệ, những quán nước ở làng Đa Chất, xã Đại Xuyên thi thoảng lại vang lên những cuộc hội thoại lạ lẫm. Người lạ nghe cảm giác như "tiếng nước ngoài", nhưng lại phát ra từ những nông dân thuần hậu. Đó là "Tõi Xưỡn" - thứ tiếng lóng độc nhất vô nhị của vùng đất này.
"Dân làng tôi không học sách vở, chỉ truyền khẩu để giữ nếp", ông Nguyễn Văn Nghinh, 67 tuổi, một trong những người thạo "Tõi Xưỡn" nhất làng, mở đầu câu chuyện. Thứ tiếng này ngấm vào máu thịt ông từ thuở bé, khi theo cha chú đi đóng cối khắp các tỉnh phía Bắc.
Bên dòng sông Nhuệ, những quán nước ở làng Đa Chất, xã Đại Xuyên thi thoảng lại vang lên những cuộc hội thoại lạ lẫm. Người lạ nghe cảm giác như "tiếng nước ngoài", nhưng lại phát ra từ những nông dân thuần hậu. Đó là "Tõi Xưỡn" - thứ tiếng lóng độc nhất vô nhị của vùng đất này.
"Dân làng tôi không học sách vở, chỉ truyền khẩu để giữ nếp", ông Nguyễn Văn Nghinh, 67 tuổi, một trong những người thạo "Tõi Xưỡn" nhất làng, mở đầu câu chuyện. Thứ tiếng này ngấm vào máu thịt ông từ thuở bé, khi theo cha chú đi đóng cối khắp các tỉnh phía Bắc.
Hai an toàn khu - một dòng lịch sử
Trong thế kỷ XX, An toàn khu (ATK) Định Hóa và ATK Chợ Đồn là những địa danh lịch sử, biểu tượng của ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và niềm tin tất thắng của dân tộc Việt Nam trước kẻ thù lớn mạnh. Trải qua thời gian, hai vùng đất từng là “Thủ đô kháng chiến” và phòng tuyến vững chắc của cách mạng nay lại tiếp tục song hành trong một chặng đường mới - chặng đường bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử gắn với phát triển bền vững trong không gian tỉnh Thái Nguyên sau sáp nhập.
22 thg 2, 2026
Ngôi làng 'cổ tích' của người tí hon ở Đà Lạt
Rũ bỏ mặc cảm ngoại hình, những người cao chưa đầy một mét tìm thấy cuộc đời mới khi hóa thân thành cư dân ngôi làng cổ tích dưới chân đồi ở Tà Nung.
Qua cánh cổng gỗ dẫn xuống thung lũng, một thế giới khác mở ra với những ngôi nhà mái cỏ thấp. Đầu làng, "chàng thợ rèn" Nguyễn Văn Lợi vung búa tạ giáng xuống đe. Dù chỉ là đạo cụ, cú gồng mình của chàng trai cao 90 cm khiến du khách thích thú. Cách đó vài bước, hai người chị của Lợi trong trang phục nông dân đon đả mời trà, thân hình nhỏ bé lọt thỏm giữa những ổ bánh mì khổng lồ.
Qua cánh cổng gỗ dẫn xuống thung lũng, một thế giới khác mở ra với những ngôi nhà mái cỏ thấp. Đầu làng, "chàng thợ rèn" Nguyễn Văn Lợi vung búa tạ giáng xuống đe. Dù chỉ là đạo cụ, cú gồng mình của chàng trai cao 90 cm khiến du khách thích thú. Cách đó vài bước, hai người chị của Lợi trong trang phục nông dân đon đả mời trà, thân hình nhỏ bé lọt thỏm giữa những ổ bánh mì khổng lồ.
Bản 'cổ tích giữa lưng chừng trời' ở Lai Châu, hoa đào, hoa cải nở đẹp như tranh
Ở xã Tả Lèng, tỉnh Lai Châu, nơi cách Hà Nội hơn 400 km, cách Sa Pa khoảng 50 km, có một bản làng người Dao nhỏ, nằm nép mình bên sườn núi, mang vẻ đẹp bình yên và nên thơ giữa bạt ngàn mây trời, núi non trùng điệp vùng Tây Bắc.
Đó là Sì Thâu Chải, nơi còn được cộng đồng mê du lịch gọi là "bản chữa lành", "bản cổ tích".
Bản nhỏ này là nơi sinh sống của hơn 60 hộ dân tộc Dao, nằm cheo leo ở độ cao gần 1.500 m so với mực nước biển. Đứng từ trên điểm cao của bản, du khách có thể phóng tầm mắt chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Tam Đường (cũ), những dãy núi trập trùng hay biển mây trắng muốt.
Năm 2024, du lịch cộng đồng bản Sì Thâu Chải được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao của tỉnh, trở thành điểm đến lý tưởng trên bản đồ du lịch Lai Châu.
Đó là Sì Thâu Chải, nơi còn được cộng đồng mê du lịch gọi là "bản chữa lành", "bản cổ tích".
Bản nhỏ này là nơi sinh sống của hơn 60 hộ dân tộc Dao, nằm cheo leo ở độ cao gần 1.500 m so với mực nước biển. Đứng từ trên điểm cao của bản, du khách có thể phóng tầm mắt chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Tam Đường (cũ), những dãy núi trập trùng hay biển mây trắng muốt.
Năm 2024, du lịch cộng đồng bản Sì Thâu Chải được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao của tỉnh, trở thành điểm đến lý tưởng trên bản đồ du lịch Lai Châu.
Du khách thích thú khám phá hang động Tiên Cá trong lòng đất ở Ninh Bình
Động Tiên Cá mang vẻ đẹp bí ẩn và huyền ảo uốn lượn trong lòng núi đá vôi, là điểm đến đang được nhiều du khách trong nước và quốc tế lựa chọn tham quan, khám phá.
Động Tiên Cá là hang động xuyên thủy mang đặc điểm hang động karst (đá vôi) nằm trong khu du lịch Thung Nham (Ninh Bình). Động có chiều dài hơn 500 m, nơi rộng nhất khoảng 40 m, nơi cao nhất 30 m, tạo nên không gian kín gió, hoang sơ và đầy hấp dẫn.
Để xuống động Tiên Cá trong lòng đất, du khách phải vượt qua cây cầu sắt
Động Tiên Cá là hang động xuyên thủy mang đặc điểm hang động karst (đá vôi) nằm trong khu du lịch Thung Nham (Ninh Bình). Động có chiều dài hơn 500 m, nơi rộng nhất khoảng 40 m, nơi cao nhất 30 m, tạo nên không gian kín gió, hoang sơ và đầy hấp dẫn.
Làng hoa giấy đẹp mê ở Vĩnh Long dịp giáp Tết, khách vượt xa tới check-in
Khung cảnh tràn ngập màu sắc rực rỡ ở làng hoa giấy Phú Sơn (Vĩnh Long) thu hút đông đảo du khách tới tham quan, chụp hình trong những ngày cận kề tết Nguyên đán 2026.
21 thg 2, 2026
Ngôi đền nghìn năm tuổi thờ 'ngựa thần', nổi tiếng linh thiêng ở Hà Nội
Là nơi trấn giữ phía Đông kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã mang vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm, cùng nhiều câu chuyện văn hóa - lịch sử gắn liền với Thủ đô Hà Nội.
Đền Bạch Mã tọa lạc tại số 76 phố Hàng Buồm, giữa khu phố tấp nập người qua lại. Bước chân qua cổng đền, du khách sẽ đi vào không gian tĩnh mịch, trong lành, tách biệt hẳn với sự ồn ào, nhộn nhịp bên ngoài.
Đây là nơi nhiều người dân, du khách lựa chọn ghé đến trong những ngày đầu năm mới Bính Ngọ 2026 để cầu bình an, may mắn.
Đền Bạch Mã tọa lạc tại số 76 phố Hàng Buồm, giữa khu phố tấp nập người qua lại. Bước chân qua cổng đền, du khách sẽ đi vào không gian tĩnh mịch, trong lành, tách biệt hẳn với sự ồn ào, nhộn nhịp bên ngoài.
Đây là nơi nhiều người dân, du khách lựa chọn ghé đến trong những ngày đầu năm mới Bính Ngọ 2026 để cầu bình an, may mắn.
'Xuyên không' ở ngôi làng cổ Hà Nội, nơi thời gian như ngủ quên
Cách trung tâm Hà Nội không xa, có những ngôi làng cổ dường như “ngủ quên” giữa nhịp sống hiện đại - nơi du khách có thể tìm kiếm cảm giác bình yên, đầy hoài niệm.
Trong kỳ nghỉ tết Nguyên đán Bính Ngọ, du khách có thể dành thời gian ghé thăm những ngôi làng cổ Hà Nội, không chỉ để săn những khung hình đẹp, đậm màu thời gian, mà còn lắng nghe và cảm nhận những câu chuyện văn hóa, nếp sống xưa vẫn âm thầm được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Trong kỳ nghỉ tết Nguyên đán Bính Ngọ, du khách có thể dành thời gian ghé thăm những ngôi làng cổ Hà Nội, không chỉ để săn những khung hình đẹp, đậm màu thời gian, mà còn lắng nghe và cảm nhận những câu chuyện văn hóa, nếp sống xưa vẫn âm thầm được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Vùng đất Hóa An xưa và nay
Phường Hóa An (TP. Biên Hòa) xưa thuộc làng Tân An và thôn Tân Hóa. Năm 1899, thôn Tân Hóa và làng Tân An sáp nhập thành làng Hóa An (Tổng Chánh Mỹ Thượng, H.Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa). Vào thời vua Tự Đức (1847-1883), làng Hóa An vỏn vẹn chưa tới 20 nhà.
Giữ hương men rượu cần
Trong bức tranh đa sắc màu của các dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S, rượu cần hiện lên như một biểu tượng văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số miền núi. Tại vùng đất Đông Nam Bộ, nơi hội tụ của những cư dân địa phương lâu đời và những cộng đồng di cư theo dòng lịch sử, rượu cần không chỉ là thức uống mà còn là nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, cầu nối giao thoa văn hóa các dân tộc.
Từ xã Lộc Quang đến vùng lõi Bù Gia Mập và cả huyền thoại sóc Bom Bo, hương men rượu cần đang kể những câu chuyện khác nhau về sức sống mãnh liệt của bản sắc.
Từ xã Lộc Quang đến vùng lõi Bù Gia Mập và cả huyền thoại sóc Bom Bo, hương men rượu cần đang kể những câu chuyện khác nhau về sức sống mãnh liệt của bản sắc.
20 thg 2, 2026
Xóm Lò Heo
Không phải ngẫu nhiên khi nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu (1916-1992) - tác giả bộ địa chí Biên Hòa sử lược toàn biên trong chương Tỉnh thành Biên Hòa vào đầu thế kỷ XX bên cạnh việc chỉ rõ những công trình xây dựng quan trọng và tiêu biểu như: tòa bố, tòa án, nhà thương, trường học, chợ Biên Hòa, thành cổ, sân vận động… đã đưa vào một cơ sở dịch vụ giết mổ gia súc, được gọi là… lò sát sinh.
Theo đó, “Lò sát sinh: Mới lập ở đầu đường Lý Thường Kiệt, sau dời đến “Thủy phi thuyền” (nay là trung tâm Phụng Hoàng). Kế, lại được thiên di lên đầu đường Trần Thượng Xuyên (còn lưu lại tục danh là Xóm Lò Heo"… “Lò Heo: Xóm Hoa - Việt tại góc đường Trần Thượng Xuyên - Thành Thái” (nay là khu phố Thành Thái, phường Trấn Biên). Vậy là nguồn gốc của Xóm Lò Heo đã rõ, chỉ tiếc là cụ Lương Văn Lựu không ghi cụ thể thời gian ra đời của khu dân cư khá đặc biệt này.
Xóm Lò Heo trong bản đồ Biên Hòa năm 1968. Ảnh do nhà nghiên cứu Lê Ngọc Quốc cung cấp.
Theo đó, “Lò sát sinh: Mới lập ở đầu đường Lý Thường Kiệt, sau dời đến “Thủy phi thuyền” (nay là trung tâm Phụng Hoàng). Kế, lại được thiên di lên đầu đường Trần Thượng Xuyên (còn lưu lại tục danh là Xóm Lò Heo"… “Lò Heo: Xóm Hoa - Việt tại góc đường Trần Thượng Xuyên - Thành Thái” (nay là khu phố Thành Thái, phường Trấn Biên). Vậy là nguồn gốc của Xóm Lò Heo đã rõ, chỉ tiếc là cụ Lương Văn Lựu không ghi cụ thể thời gian ra đời của khu dân cư khá đặc biệt này.
Song mai Tân Phú
Những năm qua, vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, có 4 cây mai tại tỉnh Đồng Nai trở thành những “ngôi sao sáng” trên mạng xã hội. 2 trong số 4 “nhân vật thương hiệu” này là cặp song mai cây anh - cây em tại xã Phú Xuân cũ, nay là xã Tân Phú (2 cây mai vàng còn lại ở xã Xuân Lộc và xã Phú Lợi).
Gốm Biên Hòa - một lựa chọn văn hóa trên vùng đất Ðồng Nai
Xuôi theo dòng Ðồng Nai, nơi in dấu bao lớp trầm tích lịch sử của vùng đất Trấn Biên xưa, nghề gốm Biên Hòa đã hình thành, phát triển, trở thành một mạch nguồn văn hóa bền bỉ.
Gốm không chỉ hiện diện như sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà còn trở thành một lựa chọn văn hóa tinh tế, gợi nhớ cội nguồn và hun đúc bản sắc đất và người Đồng Nai.
Công đoạn chấm men cho bình gốm họa tiết “3 hoa” tại xưởng gốm của chị Nguyễn Hoa (ở phường Biên Hòa), chuẩn bị phục vụ thị trường Tết 2026.
Gốm không chỉ hiện diện như sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà còn trở thành một lựa chọn văn hóa tinh tế, gợi nhớ cội nguồn và hun đúc bản sắc đất và người Đồng Nai.
Mùa cao su thay lá
Mùa cao su thay lá đến rất khẽ, khẽ đến mức người ta chỉ nhận ra khi một buổi sáng bỗng thấy con đường quen trở nên khác lạ. Không còn màu xanh liền mạch chạy dài tít tắp, rừng cao su hiện ra với những gam màu trầm hơn, chín hơn, như thể đất trời vừa hạ giọng. Nắng vẫn còn đó, nhưng nắng không còn gắt; gió vẫn thổi, nhưng gió dường như biết đi nhẹ để không làm giật mình những chiếc lá đang ở ranh giới cuối cùng của một vòng đời.
Những chiếc lá cao su bắt đầu đổi màu từ trên ngọn xuống. Ban đầu chỉ là vài tán cây lấm tấm vàng, rồi dần dần cả khu rừng nhuốm một sắc nâu đỏ rất riêng. Lá không rụng ồ ạt. Chúng rơi từng chiếc, chậm rãi, đủ để người ta kịp nhìn theo quỹ đạo mỏng manh ấy mà nghĩ ngợi. Có chiếc lá xoay nhẹ trong gió, có chiếc rơi thẳng, khẽ khàng chạm đất rồi nằm yên, như thể đã hoàn thành xong việc của mình.
Con đường như được “nhuộm vàng” bởi cảnh sắc cao su mùa thay lá.
Những chiếc lá cao su bắt đầu đổi màu từ trên ngọn xuống. Ban đầu chỉ là vài tán cây lấm tấm vàng, rồi dần dần cả khu rừng nhuốm một sắc nâu đỏ rất riêng. Lá không rụng ồ ạt. Chúng rơi từng chiếc, chậm rãi, đủ để người ta kịp nhìn theo quỹ đạo mỏng manh ấy mà nghĩ ngợi. Có chiếc lá xoay nhẹ trong gió, có chiếc rơi thẳng, khẽ khàng chạm đất rồi nằm yên, như thể đã hoàn thành xong việc của mình.
19 thg 2, 2026
Lễ hội vật làng Vĩnh Khê - di sản của tinh thần thượng võ
Với lịch sử gần 700 năm, Lễ hội vật làng Vĩnh Khê (phường An Hải, Hải Phòng) trở thành biểu tượng sinh động của tinh thần thượng võ, đạo lý 'uống nước nhớ nguồn' và sức mạnh đoàn kết cộng đồng.
Nhiều nét độc đáo
Theo sử liệu còn lưu giữ của địa phương, Lễ hội vật làng Vĩnh Khê được hình thành từ thời nhà Trần, vào khoảng thế kỷ XIV, gắn với tín ngưỡng thờ phụng và tri ân công đức nhị vị Thành hoàng làng Vũ Dao, Vũ Sào – những vị tướng tài có công giúp dân lập làng, bảo vệ xóm thôn, xây dựng cuộc sống yên bình, no ấm.
Hằng năm, lễ hội được tổ chức trong ba ngày đầu xuân, trong đó ngày mùng 7 tháng giêng là chính hội. Đây là dịp để nhân dân địa phương dâng lễ vật, sản vật do chính tay mình làm ra, bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân, cầu mong một năm mới quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình hạnh phúc, cuộc sống đủ đầy.
Nhiều nét độc đáo
Theo sử liệu còn lưu giữ của địa phương, Lễ hội vật làng Vĩnh Khê được hình thành từ thời nhà Trần, vào khoảng thế kỷ XIV, gắn với tín ngưỡng thờ phụng và tri ân công đức nhị vị Thành hoàng làng Vũ Dao, Vũ Sào – những vị tướng tài có công giúp dân lập làng, bảo vệ xóm thôn, xây dựng cuộc sống yên bình, no ấm.
Hằng năm, lễ hội được tổ chức trong ba ngày đầu xuân, trong đó ngày mùng 7 tháng giêng là chính hội. Đây là dịp để nhân dân địa phương dâng lễ vật, sản vật do chính tay mình làm ra, bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân, cầu mong một năm mới quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình hạnh phúc, cuộc sống đủ đầy.
Sản vật 'trời ban' ở Quảng Ngãi ăn giòn mát, làm món trộn càng ngon
Tầm trong và sau Tết (khoảng từ tháng 2 đến tháng 5 dương lịch) là thời điểm người dân Lý Sơn (Quảng Ngãi) khai thác sản vật này, đem về chế biến thành nhiều món hấp dẫn.
Ở đặc khu Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) có một sản vật quen thuộc với người bản địa nhưng còn khá xa lạ với du khách thập phương, được gọi với cái tên thân thương là rau bồng bồng, cum cúm.
Thực chất đây là một loại rong sụn thường xuất hiện ở vùng biển miền Trung nhưng phổ biến hơn cả là ở Lý Sơn, nhất là khu vực đảo An Bình (đảo Bé).
Rau cum cúm thân tròn, không dài, chỉ chừng 10-15cm, phân thành nhiều nhánh nhỏ xòe ra như san hô và có các màu sắc khác nhau.
Chúng mọc thành từng đám ở mực nước tầm 1-5m, bám trên đá hay lẩn khuất trong những rạn san hô ngầm, cách bờ đảo khoảng chục mét.
Giá trị đặc biệt của những cây đại cổ thụ ở chùa Côn Sơn
Trong khuôn viên chùa Côn Sơn (thành phố Hải Phòng) có những cây đại cổ thụ đã tồn tại qua nhiều thế kỷ.
Dạo bước dưới hàng thông cổ thụ rồi lách qua cánh cổng chùa Côn Sơn rêu phong, du khách như lạc vào một không gian tĩnh mịch, mà ở đó thời gian như ngưng đọng.
Kia mái chùa cổ kính, đây tiếng chuông trầm mặc rồi tan dần theo những làn hương trầm vương vấn. Trước mắt du khách hiện ra những gốc cây đại sù sì, rêu mốc và hợp với cảnh vật nơi này một cách lạ lùng.
Những cây đại cổ thụ bên cạnh mái chùa Côn Sơn cổ kính
Dạo bước dưới hàng thông cổ thụ rồi lách qua cánh cổng chùa Côn Sơn rêu phong, du khách như lạc vào một không gian tĩnh mịch, mà ở đó thời gian như ngưng đọng.
Kia mái chùa cổ kính, đây tiếng chuông trầm mặc rồi tan dần theo những làn hương trầm vương vấn. Trước mắt du khách hiện ra những gốc cây đại sù sì, rêu mốc và hợp với cảnh vật nơi này một cách lạ lùng.
Di tích cách mạng đình Kim Sơn
Đình Kim Sơn ở thôn Kim Sơn, xã Kiến Hưng (Hải Phòng) là một trong những di tích cách mạng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng sớm nhất ở Hải Phòng.
18 thg 2, 2026
Chùa Động Ngọ - ngôi cổ tự hơn 1.000 năm tuổi ở Hải Phòng
Nằm ở Tổ dân phố Cập Nhất 1, phường Nam Đồng (thành phố Hải Phòng), chùa Động Ngọ là một trong những ngôi cổ tự mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa và tâm linh.
Bí ẩn thời niên thiếu của Hưng Đạo Đại vương và dấu tích ở chùa Thắng Nghiêm
Tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản 'Trần triều sự tích', cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
Hiện không có bộ chính sử nào cho biết về giai đoạn đầu đời của Trần Quốc Tuấn từ khi sinh ra cho đến năm 1251 - thời điểm ông lấy Thiên Thành công chúa. Cũng không có chính sử ghi Trần Quốc Tuấn sinh năm nào.
Tuy nhiên, tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản "Trần triều sự tích", đã cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của ông, gắn với thời gian ông ẩn cư, học tập và tu luyện tại ngôi chùa này.
Từ bản thần tích còn lưu giữ và đối chiếu với Đại Việt sử ký toàn thư, PGS.TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học) cho rằng có thể tạm thời ghi nhận Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 3 năm Tân Mão (1231). Cũng theo đó, khi Trần Quốc Tuấn khoảng 6 - 7 tuổi, sau sự việc cha ông là Trần Liễu chống triều đình (năm 1237), ông được mẹ nuôi, cũng là cô ruột là Thụy Bà công chúa đưa về ẩn cư tại chùa Thắng Nghiêm (Khúc Thủy). Ông ẩn cư và học tập dưới sự che chở của sư thầy trụ trì ngôi chùa và của mẹ nuôi, trong khoảng 12 - 13 năm (1237 - 1250).
Nhận định của PGS.TS Nguyễn Minh Tường được nhiều nhà khoa học khác đánh giá cao và cho rằng kết luận bước đầu Trần Quốc Tuấn đã từng ẩn cư học tập, tu luyện ở chùa Thắng Nghiêm là rất có cơ sở. Được biết, Trần triều sự tích là bản thần tích được chép lại vào cuối thế kỷ XIX. Đây được đánh giá là tài liệu đặc biệt, có cốt lõi lịch sử nhất định.
Tuy nhiên, PGS.TS Trần Thị Vinh (Viện Sử học) cũng đưa ra cảnh báo các bản thần tích hiện còn nói chung cần phải được thẩm định kỹ về nội dung và xác định rõ về niên đại mới bảo đảm độ tin cậy. Hiện nay, phần nhiều di tích đều bị mất thần tích và nhiều địa phương đang tìm cách để khôi phục. Song đã có khá nhiều chuyện "râu ông nọ cắm cằm bà kia", thậm chí làm méo mó lịch sử bởi bệnh "sính" sự tích nhân thần có công với nước.
Tư liệu thần tích có vai trò quan trọng đối với việc nghiên cứu, bảo tồn và tái tạo di tích. Song cũng cần thận trọng khi sử dụng các tài liệu này. Bản thần tích Trần triều sự tích được lưu giữ từ lâu tại chùa Thắng Nghiêm là tài liệu quý nhưng chưa được kiểm chứng nên chưa có độ tin cậy...
Được biết, cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cũng đã từng đề cập đến vấn đề này trong một nghiên cứu. Dù chưa đưa ra khẳng định, song với tầm ảnh hưởng sâu rộng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đối với lịch sử thì chắc chắn sẽ có thêm nhiều nghiên cứu khác để đưa ra một lời giải về bí ẩn thời niên thiếu của ông.
Anh Nguyễn Văn Cường, Phó Trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cho biết, dù thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo chưa được khẳng định, song những gì ông đóng góp đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông để bảo vệ bờ cõi Đại Việt đã được sử sách ghi chép khá chi tiết. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 1 năm 1258, khoảng năm 1262, Trần Hưng Đạo về Vạn Kiếp xây dựng phòng tuyến quân doanh phòng bị. Đây cũng là những tư liệu gián tiếp chứ không có tư liệu trực tiếp nào khẳng định ông về năm nào.
Sau khi giặc trở lại lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (cuối năm 1287-1288) đều thất bại khiến chúng từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt.
Sử sách ghi lại, sau khi đất nước thanh bình, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến chọn Vạn Kiếp - nơi trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông là đại bản doanh của ông cùng tướng sĩ làm nơi sinh sống.
Ngày 20/8 âm lịch năm Hưng Long thứ 8 (1300), Hưng Đạo Đại vương từ trần tại Tư dinh Vạn Kiếp. Tương truyền, trước khi hóa Thánh, Hưng Đạo Vương lên núi Mâm Xôi, 1 trong 9 ngọn núi thuộc dãy núi Trán Rồng phía sau đền Kiếp Bạc để từ biệt con dân. Khi Hưng Đạo Vương hóa Thánh về trời, nhân dân làng Kiếp, làng Bạc tiếc thương đã mang xôi lễ và 100 nén hương lên núi Mâm Xôi thờ phụng.
Theo văn bia tại di tích, đền Kiếp Bạc được xây dựng sau khi Hưng Đạo Đại vương qua đời năm 1300, vị trí đền ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc, trên khu đất rộng khoảng 13.500 m².
Như vậy, dù những cứ liệu về thời niên thiếu Trần Hưng Đạo sinh sống tại đâu vẫn còn nhiều điểm chưa được khẳng định, không có chính sử mà chỉ căn cứ vào bản "Trần triều sự tích", song phần lớn thời gian - gần 40 năm (khoảng từ năm 1262 cho đến khi ông qua đời), ông đã gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp - đại bản doanh của ông trong kháng chiến. Vạn Kiếp và các trận chiến đẩy lùi quân giặc hung hãn đến từ phương Bắc cũng làm nên tên tuổi của ông - Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy. Ảnh: ANTAMTOUR
Hiện không có bộ chính sử nào cho biết về giai đoạn đầu đời của Trần Quốc Tuấn từ khi sinh ra cho đến năm 1251 - thời điểm ông lấy Thiên Thành công chúa. Cũng không có chính sử ghi Trần Quốc Tuấn sinh năm nào.
Tuy nhiên, tại chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy (xã Bình Minh, Hà Nội) còn lưu giữ bản "Trần triều sự tích", đã cung cấp những cứ liệu quan trọng, góp phần làm sáng tỏ giai đoạn tuổi trẻ của ông, gắn với thời gian ông ẩn cư, học tập và tu luyện tại ngôi chùa này.
Từ bản thần tích còn lưu giữ và đối chiếu với Đại Việt sử ký toàn thư, PGS.TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học) cho rằng có thể tạm thời ghi nhận Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 3 năm Tân Mão (1231). Cũng theo đó, khi Trần Quốc Tuấn khoảng 6 - 7 tuổi, sau sự việc cha ông là Trần Liễu chống triều đình (năm 1237), ông được mẹ nuôi, cũng là cô ruột là Thụy Bà công chúa đưa về ẩn cư tại chùa Thắng Nghiêm (Khúc Thủy). Ông ẩn cư và học tập dưới sự che chở của sư thầy trụ trì ngôi chùa và của mẹ nuôi, trong khoảng 12 - 13 năm (1237 - 1250).
Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy được cho là nơi ẩn cư và học tập của Trần Quốc Tuấn trong khoảng 12 - 13 năm. Ảnh: ANTAMTOUR
Nhận định của PGS.TS Nguyễn Minh Tường được nhiều nhà khoa học khác đánh giá cao và cho rằng kết luận bước đầu Trần Quốc Tuấn đã từng ẩn cư học tập, tu luyện ở chùa Thắng Nghiêm là rất có cơ sở. Được biết, Trần triều sự tích là bản thần tích được chép lại vào cuối thế kỷ XIX. Đây được đánh giá là tài liệu đặc biệt, có cốt lõi lịch sử nhất định.
Chùa Thắng Nghiêm - Khúc Thủy và thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo đã từng được cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đề cập đến trong một nghiên cứu. Ảnh: ANTAMTOUR
Tuy nhiên, PGS.TS Trần Thị Vinh (Viện Sử học) cũng đưa ra cảnh báo các bản thần tích hiện còn nói chung cần phải được thẩm định kỹ về nội dung và xác định rõ về niên đại mới bảo đảm độ tin cậy. Hiện nay, phần nhiều di tích đều bị mất thần tích và nhiều địa phương đang tìm cách để khôi phục. Song đã có khá nhiều chuyện "râu ông nọ cắm cằm bà kia", thậm chí làm méo mó lịch sử bởi bệnh "sính" sự tích nhân thần có công với nước.
Tư liệu thần tích có vai trò quan trọng đối với việc nghiên cứu, bảo tồn và tái tạo di tích. Song cũng cần thận trọng khi sử dụng các tài liệu này. Bản thần tích Trần triều sự tích được lưu giữ từ lâu tại chùa Thắng Nghiêm là tài liệu quý nhưng chưa được kiểm chứng nên chưa có độ tin cậy...
Được biết, cán bộ Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cũng đã từng đề cập đến vấn đề này trong một nghiên cứu. Dù chưa đưa ra khẳng định, song với tầm ảnh hưởng sâu rộng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đối với lịch sử thì chắc chắn sẽ có thêm nhiều nghiên cứu khác để đưa ra một lời giải về bí ẩn thời niên thiếu của ông.
Theo sử sách, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn có phần lớn thời gian gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp cho đến khi qua đời.
Anh Nguyễn Văn Cường, Phó Trưởng Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cho biết, dù thời niên thiếu của danh tướng Trần Hưng Đạo chưa được khẳng định, song những gì ông đóng góp đối với lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông để bảo vệ bờ cõi Đại Việt đã được sử sách ghi chép khá chi tiết. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 1 năm 1258, khoảng năm 1262, Trần Hưng Đạo về Vạn Kiếp xây dựng phòng tuyến quân doanh phòng bị. Đây cũng là những tư liệu gián tiếp chứ không có tư liệu trực tiếp nào khẳng định ông về năm nào.
Sau khi giặc trở lại lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (cuối năm 1287-1288) đều thất bại khiến chúng từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt.
Sử sách ghi lại, sau khi đất nước thanh bình, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến chọn Vạn Kiếp - nơi trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông là đại bản doanh của ông cùng tướng sĩ làm nơi sinh sống.
Ngày 20/8 âm lịch năm Hưng Long thứ 8 (1300), Hưng Đạo Đại vương từ trần tại Tư dinh Vạn Kiếp. Tương truyền, trước khi hóa Thánh, Hưng Đạo Vương lên núi Mâm Xôi, 1 trong 9 ngọn núi thuộc dãy núi Trán Rồng phía sau đền Kiếp Bạc để từ biệt con dân. Khi Hưng Đạo Vương hóa Thánh về trời, nhân dân làng Kiếp, làng Bạc tiếc thương đã mang xôi lễ và 100 nén hương lên núi Mâm Xôi thờ phụng.
Theo văn bia tại di tích, đền Kiếp Bạc được xây dựng sau khi Hưng Đạo Đại vương qua đời năm 1300, vị trí đền ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc, trên khu đất rộng khoảng 13.500 m².
Như vậy, dù những cứ liệu về thời niên thiếu Trần Hưng Đạo sinh sống tại đâu vẫn còn nhiều điểm chưa được khẳng định, không có chính sử mà chỉ căn cứ vào bản "Trần triều sự tích", song phần lớn thời gian - gần 40 năm (khoảng từ năm 1262 cho đến khi ông qua đời), ông đã gắn bó với mảnh đất Vạn Kiếp - đại bản doanh của ông trong kháng chiến. Vạn Kiếp và các trận chiến đẩy lùi quân giặc hung hãn đến từ phương Bắc cũng làm nên tên tuổi của ông - Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
TIẾN HUY
Canh thụt - nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của đồng bào M’nông
Giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, nơi tiếng chiêng ngân vang thẩm thấu qua muôn ngàn màu sắc của lễ hội, ẩm thực của đồng bào M’nông luôn mang một màu sắc riêng biệt, độc đáo; không cầu kỳ, không nặng về hình thức mà ẩn chứa trong đó sự mộc mạc, tinh túy và hơi thở núi rừng. Trong đó, canh thụt được xem là đặc sản tiêu biểu, phản ánh rõ nét văn hóa lao động, sinh hoạt và triết lý sống hòa hợp với thiên nhiên của cư dân bản địa.
Bánh hỏi lòng heo Phú Long - món ngon giữ hồn ẩm thực địa phương
Trong hành trình khám phá vùng Lâm Đồng biển xanh dịp cuối năm, giữa vô vàn thức quà của biển, nhóm bạn từ TP Hồ Chí Minh vẫn nhất quyết chọn bánh hỏi lòng heo Phú Long. Món ăn dân dã, quen thuộc ở nhiều nơi, nhưng theo họ, “nếu không thưởng thức thì chuyến đi chưa thật trọn vẹn”.
17 thg 2, 2026
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Ngôi đình xưa ở Tân Châu
Đình Long Sơn tọa lạc giữa phố dân cư đông đúc, nhà cửa san sát, thuộc TX. Tân Châu, An Giang. Long Sơn là vùng đất lâu đời và nổi tiếng của xứ lụa Tân Châu. Qua nhiều lần trùng tu, dù mang dáng dấp tân kỳ, nhưng dấu vết ngôi đình xưa vẫn còn đậm nét.
Ngôi đình hơn 170 năm
Cổng vào ngôi đình được xây dựng theo lối mới với cổng tam quan mái lợp ngói. Trước sân đình có một cây dương cổ thụ rất to. Dù nằm trong khu vực phố xá, nhưng khuôn viên ngôi đình có diện tích khá rộng, nhiều công trình phụ được trùng tu xây mới.
Ngôi đình hơn 170 năm
Cổng vào ngôi đình được xây dựng theo lối mới với cổng tam quan mái lợp ngói. Trước sân đình có một cây dương cổ thụ rất to. Dù nằm trong khu vực phố xá, nhưng khuôn viên ngôi đình có diện tích khá rộng, nhiều công trình phụ được trùng tu xây mới.
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Giai thoại ông Thần ăn chay
Nằm cạnh bờ sông Ba Rày, Cẩm Sơn trai đình thuộc địa phận ấp 3, xã Cẩm Sơn, H. Cai Lậy, Tiền Giang. Ngôi đình có niên đại khoảng 250 năm, ban đầu gọi là miếu Thần ăn chay với nhiều giai thoại còn lưu truyền đến ngày nay.
Thăng trầm ngôi miếu cũ
Lịch sử địa phương chép, vào khoảng năm 1757, có đoàn người từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi theo lời kêu gọi của quan Điều khiển Nguyễn Cư Trinh đã vượt biển vào Nam khai hoang, lập làng dọc theo sông Ba Rày. Tục lệ bấy giờ, khi lập ấp phải dựng một ngôi miếu thờ bà Chúa Xứ, còn lập làng thì dựng đình thờ Thành hoàng bổn cảnh.
Thăng trầm ngôi miếu cũ
Lịch sử địa phương chép, vào khoảng năm 1757, có đoàn người từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi theo lời kêu gọi của quan Điều khiển Nguyễn Cư Trinh đã vượt biển vào Nam khai hoang, lập làng dọc theo sông Ba Rày. Tục lệ bấy giờ, khi lập ấp phải dựng một ngôi miếu thờ bà Chúa Xứ, còn lập làng thì dựng đình thờ Thành hoàng bổn cảnh.
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Di tích cổ mộ trên đất cù lao
Từ chợ Vũng Liêm đi xe máy khoảng 30 phút đến bến phà vượt sông Cổ Chiên qua cù lao Dài. Qua phà xong, chúng tôi chạy lòng vòng, hỏi thăm đường tới khu mộ mẫu thân và cha mẹ vợ Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại tại ấp Thái Bình, xã Thanh Bình, H.Vũng Liêm, Vĩnh Long.
Lánh cư ở cù lao Dài
Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý đất Gia Định, chiêu mộ dân tới ở và lập làng xã. Năm 1732, thấy vùng này quá rộng, chúa Nguyễn bèn chia cắt, lập thêm châu Định Viễn và dinh Long Hồ. Bấy giờ, lỵ sở dinh Long Hồ đóng tại thôn An Bình, xứ Cái Bè. Đến năm 1765, lỵ sở châu Định Viễn và dinh Long Hồ dời đến xứ Tầm Bào (Vĩnh Long bây giờ). Lúc này, cù lao Dài đã được cư dân xứ Quảng vào khai phá, lập nghiệp.
Lánh cư ở cù lao Dài
Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý đất Gia Định, chiêu mộ dân tới ở và lập làng xã. Năm 1732, thấy vùng này quá rộng, chúa Nguyễn bèn chia cắt, lập thêm châu Định Viễn và dinh Long Hồ. Bấy giờ, lỵ sở dinh Long Hồ đóng tại thôn An Bình, xứ Cái Bè. Đến năm 1765, lỵ sở châu Định Viễn và dinh Long Hồ dời đến xứ Tầm Bào (Vĩnh Long bây giờ). Lúc này, cù lao Dài đã được cư dân xứ Quảng vào khai phá, lập nghiệp.
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Cổ tích Miếu Hội Tân Châu
Trong dân gian, có lẽ do chịu ảnh hưởng tục của người Hoa, người ta gọi ngôi đình làng là miễu, có nơi gọi là miếu võ, thần từ hoặc cổ miếu...
Miếu thờ tứ vị vương
Giới thiệu cho chúng tôi xem hình ảnh ngôi miếu bằng tre lá ngày xưa, ông từ giữ Miếu Hội ở P.Long Châu, TX.Tân Châu (An Giang) nói: "Nghe ông bà kể lại, từ ngôi miếu ban đầu, ông kế hiền đã đứng ra cất lại ngôi miếu nền đúc, mái ngói, rồi có người hiến đất mở rộng thêm, xung quanh toàn cây cổ thụ. Khoảng năm 1968, ngôi miếu bị trúng bom cháy rụi. Sau đó người dân chung sức dựng lại. Ngôi miếu hiện tại được cất trên nền miếu cũ và đã qua nhiều lần sửa chữa".
Miếu thờ tứ vị vương
Giới thiệu cho chúng tôi xem hình ảnh ngôi miếu bằng tre lá ngày xưa, ông từ giữ Miếu Hội ở P.Long Châu, TX.Tân Châu (An Giang) nói: "Nghe ông bà kể lại, từ ngôi miếu ban đầu, ông kế hiền đã đứng ra cất lại ngôi miếu nền đúc, mái ngói, rồi có người hiến đất mở rộng thêm, xung quanh toàn cây cổ thụ. Khoảng năm 1968, ngôi miếu bị trúng bom cháy rụi. Sau đó người dân chung sức dựng lại. Ngôi miếu hiện tại được cất trên nền miếu cũ và đã qua nhiều lần sửa chữa".
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Ngôi đình thờ vua Lê, chúa Nguyễn
Dưới bóng những cây sao cổ thụ và ở ngay ngã ba sông, đình Bình Phú (H.Cai Lậy, Tiền Giang) có vị trí phong thủy ít ngôi đình nào trong vùng sánh được. Nơi đây còn lưu giữ nhiều di sản chứng tỏ là một trong những ngôi đình có niên đại xưa nhất.
Thờ vua Lê, chúa Nguyễn…
Địa bạ Minh Mạng năm 1836 ghi Bình Phú là một thôn cổ hình thành từ hai xứ Nam Đăng và Bắc Bình. Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, Nam Đăng và Bắc Bình không phải là hai ấp mà có thể là hai cơ đồn điền được lập từ thời Nguyễn Cư Trinh đưa dân miền ngoài vào khai hoang lập dinh Long Hồ ở Cái Bè. Từ đó có thể phỏng định thôn Bình Phú được lập vào khoảng sau năm Nhâm Tý (1732).
Thờ vua Lê, chúa Nguyễn…
Địa bạ Minh Mạng năm 1836 ghi Bình Phú là một thôn cổ hình thành từ hai xứ Nam Đăng và Bắc Bình. Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, Nam Đăng và Bắc Bình không phải là hai ấp mà có thể là hai cơ đồn điền được lập từ thời Nguyễn Cư Trinh đưa dân miền ngoài vào khai hoang lập dinh Long Hồ ở Cái Bè. Từ đó có thể phỏng định thôn Bình Phú được lập vào khoảng sau năm Nhâm Tý (1732).
16 thg 2, 2026
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Trăm năm di tích Kiến An Cung
Xây dựng năm 1924, chùa Ông Quách (còn gọi là Kiến An Cung - tọa lạc đường Phan Bội Châu, TP. Sa Đéc, Đồng Tháp) là cơ sở tín ngưỡng, cũng là hội quán liên kết cộng đồng của người Việt gốc Hoa, được công nhận di tích văn hóa lịch sử quốc gia.
Kiến trúc đặc trưng Phúc Kiến
Năm 1698, sau khi lập phủ Gia Định, chúa Nguyễn liền cho cộng đồng người gốc Hoa ở Trấn Biên lập xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn thì lập xã Minh Hương rồi ghép vào sổ hộ tịch. Thanh Hà và Minh Hương là 2 tổ chức hành chánh quản lý người Hoa theo chế độ "lãnh sự". Họ lập đền miếu làm hội quán và thờ Phước Đức Chánh thần, Quan Thánh...
Kiến trúc đặc trưng Phúc Kiến
Năm 1698, sau khi lập phủ Gia Định, chúa Nguyễn liền cho cộng đồng người gốc Hoa ở Trấn Biên lập xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn thì lập xã Minh Hương rồi ghép vào sổ hộ tịch. Thanh Hà và Minh Hương là 2 tổ chức hành chánh quản lý người Hoa theo chế độ "lãnh sự". Họ lập đền miếu làm hội quán và thờ Phước Đức Chánh thần, Quan Thánh...
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Dấu xưa ở đình Ba Vát
Đình Ba Vát còn gọi là Phước Mỹ Trung, nơi lưu dấu chứng tích trận đánh lịch sử xảy ra vào thế kỷ 18 ở thôn Phước Hạnh, làng Phước Mỹ Trung, H.Tân An, Vĩnh Long (nay thuộc H. Mỏ Cày Bắc, Bến Tre).
Những dấu tích lịch sử
Trải qua hàng trăm năm, chợ Ba Vát nhiều lần thay đổi nhưng ngôi đình bên cạnh vẫn còn lưu giữ chứng tích xưa. Ba Vát là nơi diễn ra trận đánh cuối cùng của Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương với quân Tây Sơn. Đồn binh thất thủ, Tân Chính vương bị bắt rồi bị giết. Vì vậy, đình Phước Mỹ Trung hiện có một chi tiết đặc biệt là thờ cả thần và thánh.
Những dấu tích lịch sử
Trải qua hàng trăm năm, chợ Ba Vát nhiều lần thay đổi nhưng ngôi đình bên cạnh vẫn còn lưu giữ chứng tích xưa. Ba Vát là nơi diễn ra trận đánh cuối cùng của Tân Chính vương Nguyễn Phúc Dương với quân Tây Sơn. Đồn binh thất thủ, Tân Chính vương bị bắt rồi bị giết. Vì vậy, đình Phước Mỹ Trung hiện có một chi tiết đặc biệt là thờ cả thần và thánh.
Dấu xưa mở cõi đất phương Nam: Dấu ấn thời khai hoang lập ruộng
Bửu Hương tự, còn gọi là đền thờ Quản Cơ, tọa lạc ấp Bờ Dâu, xã Thạnh Mỹ Tây, H.Châu Phú (An Giang). Người địa phương quen gọi là dinh Đức Cố Quản.
Đây là cơ sở tín ngưỡng của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, cũng là nơi thờ tự các vị anh hùng kháng Pháp trong cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bãi Thưa (1867 - 1873), do Quản Cơ Trần Văn Thành lãnh đạo.
Đây là cơ sở tín ngưỡng của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, cũng là nơi thờ tự các vị anh hùng kháng Pháp trong cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bãi Thưa (1867 - 1873), do Quản Cơ Trần Văn Thành lãnh đạo.
Khai hoang lập ruộng
Quản Cơ Trần Văn Thành (1823 - 1873) người thôn Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, phủ Tuy Biên, An Giang (nay thuộc H.Phú Tân, An Giang). Ông xuất thân từ gia đình nông dân, có sức mạnh và thông suốt binh thư đồ trận. Năm 19 tuổi, ông nhập ngũ, tham gia bảo vệ biên giới. Nhờ lập nhiều công trạng nên ông nhanh chóng được thăng Suất Đội rồi Phó Quản Cơ.
Quản Cơ Trần Văn Thành (1823 - 1873) người thôn Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, phủ Tuy Biên, An Giang (nay thuộc H.Phú Tân, An Giang). Ông xuất thân từ gia đình nông dân, có sức mạnh và thông suốt binh thư đồ trận. Năm 19 tuổi, ông nhập ngũ, tham gia bảo vệ biên giới. Nhờ lập nhiều công trạng nên ông nhanh chóng được thăng Suất Đội rồi Phó Quản Cơ.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)


































.jpg)


.jpg)
.jpg)

.jpg)








