29 thg 1, 2026
Bảo vật quốc gia ở chùa Giám
Cửu phẩm Liên hoa ở chùa Giám, xã Cẩm Giang (Hải Phòng) được nhiều người biết đến không chỉ là một cối kinh Phật mà còn là tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của kiến trúc dân gian.
Cổ kính đình làng Phong Lâm
Giữa không gian làng quê yên ả, đình Phong Lâm (xã Gia Phúc, Hải Phòng) toát lên vẻ trầm mặc với mái ngói rêu phong, hàng cột gỗ lim vững chãi và những đường chạm khắc tinh xảo.
Đình Phong Lâm được khởi dựng từ khá sớm, ban đầu có quy mô nhỏ, đến thời Nguyễn xây dựng lại khang trang. Văn bia hiện còn tại di tích cho biết vào các năm Kỷ Mùi (1859), Thành Thái 5 (1893) và Hoàng triều Duy Tân (1907 - 1916), nhiều người dân trong làng đóng góp tiền, ruộng trùng tu ngôi đình.
7 tấm bia cổ được lưu giữ tại đình Phong Lâm.
Đình Phong Lâm được khởi dựng từ khá sớm, ban đầu có quy mô nhỏ, đến thời Nguyễn xây dựng lại khang trang. Văn bia hiện còn tại di tích cho biết vào các năm Kỷ Mùi (1859), Thành Thái 5 (1893) và Hoàng triều Duy Tân (1907 - 1916), nhiều người dân trong làng đóng góp tiền, ruộng trùng tu ngôi đình.
28 thg 1, 2026
Tấm bia đá trên lưng rùa ở chùa Gò Kén
Bước vào chùa Gò Kén, ta sẽ thấy ngay trong sân chùa trước chánh điện một con rùa mang bia đá trên lưng.
Quả bầu khô và ẩm thực Tây Nguyên
Nếu cây lúa rẫy là nguồn lương thực chủ lực của đồng bào miền núi, thì các loại bầu, bí, dưa, cà… lại là nguồn thực phẩm thiết yếu gắn bó với đời sống hằng ngày. Trong đó, quả bầu không chỉ được dùng làm món ăn mà còn mang nhiều công dụng trong sinh hoạt và đặc biệt giữ vị trí quan trọng trong văn hóa ẩm thực của hầu hết các dân tộc ở dãy Trường Sơn - Tây Nguyên.
Cúng vía bếp - Nghi lễ quan trọng của người Mường
Nằm trong chuỗi hoạt động tháng “Tết bản làng” trong tháng 1 tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, TP. Hà Nội), đồng bào dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ vừa tổ chức tái hiện tục cúng vía bếp - một trong những nghi lễ dân gian quan trọng, mang đậm yếu tố tâm linh trong đời sống tinh thần của người Mường.
Tục cúng vía cho bếp (Khồông bếp) là nghi lễ quan trọng khi sửa bếp của người Mường. Đây không chỉ đơn giản là việc sửa sang lại nơi nấu nướng, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc bởi người Mường coi bếp lửa như linh hồn của ngôi nhà, bảo vệ gia đình, mang lại sự ấm no, thịnh vượng và xua đuổi tà khí.
Mâm cúng vía bếp của đồng bào Mường
Tục cúng vía cho bếp (Khồông bếp) là nghi lễ quan trọng khi sửa bếp của người Mường. Đây không chỉ đơn giản là việc sửa sang lại nơi nấu nướng, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc bởi người Mường coi bếp lửa như linh hồn của ngôi nhà, bảo vệ gia đình, mang lại sự ấm no, thịnh vượng và xua đuổi tà khí.
Xăng Khan đậm bản sắc văn hóa đồng bào Thái
Lễ Xăng Khan là một nghi lễ tín ngưỡng dân gian đặc sắc của đồng bào dân tộc Thái ở miền Tây Nghệ An. Với người Thái, đây không chỉ là một lễ hội mà chính là không gian văn hóa để con người bày tỏ lòng biết ơn thần linh, tổ tiên và tri ân những người làm nghề mo.
Theo các già làng và thầy mo, Lễ hội Xăng Khan đã tồn tại từ rất lâu đời, khi đất trời còn hoang sơ thì Xăng Khan đã hiện hữu trong đời sống cộng đồng người Thái. Lễ hội gắn chặt với lịch sử hình thành bản làng và sự phát triển của đồng bào Thái ở xứ Nghệ.
Theo các già làng và thầy mo, Lễ hội Xăng Khan đã tồn tại từ rất lâu đời, khi đất trời còn hoang sơ thì Xăng Khan đã hiện hữu trong đời sống cộng đồng người Thái. Lễ hội gắn chặt với lịch sử hình thành bản làng và sự phát triển của đồng bào Thái ở xứ Nghệ.
27 thg 1, 2026
Thung Nham - Xứ sở chim trời giữa lòng di sản Ninh Bình
Vào mùa cao điểm sinh sản, từ tháng 8 đến tháng 4 âm lịch, số lượng chim
tại Vườn chim Thung Nham lên tới hàng chục nghìn cá thể. Ảnh: Thùy Dung
- TTXVN
Nằm trong Khu du lịch sinh thái Thung Nham, thuộc phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Vườn chim Thung Nham không chỉ là một điểm đến hấp dẫn mà còn là "lá phổi xanh", là minh chứng sống động cho sự đa dạng sinh học của vùng đất này. Được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An nay càng thêm phần phong phú với sự hiện diện của một trong những vườn chim tự nhiên lớn nhất miền Bắc.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Khởi nghĩa Hương Khê và thủ lĩnh Phan Đình Phùng
Phan Đình Phùng, hiệu Châu Phong, tự Tôn Cát, sinh năm 1847 tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, H.La Sơn, phủ Đức Thọ (nay thuộc xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) trong một gia đình nổi tiếng thi thư, có tới mười hai đời nối nhau đỗ đạt và ra làm quan.
Một người cương trực
Năm 29 tuổi (1876), Phan Đình Phùng thi đỗ cử nhân khoa Bính Tý, năm sau (1877) đỗ Tiến sĩ.
Phan Đình Phùng ra làm quan, nhanh chóng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng. Do đức tính liêm khiết và cương trực, ông được vua Tự Đức cho giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, một vị trí có quyền chỉ trích các quan lại đồng liêu, dẫn đến việc loại bỏ được nhiều kẻ bất tài, tham nhũng. Vua Tự Đức đã từng khen ngợi: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được).
Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.
Một người cương trực
Năm 29 tuổi (1876), Phan Đình Phùng thi đỗ cử nhân khoa Bính Tý, năm sau (1877) đỗ Tiến sĩ.
Phan Đình Phùng ra làm quan, nhanh chóng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng. Do đức tính liêm khiết và cương trực, ông được vua Tự Đức cho giữ chức Ngự sử tại Đô sát viện, một vị trí có quyền chỉ trích các quan lại đồng liêu, dẫn đến việc loại bỏ được nhiều kẻ bất tài, tham nhũng. Vua Tự Đức đã từng khen ngợi: "thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được).
Năm 1884, Phan Đình Phùng được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Hoàng Đình Kinh - thủ lĩnh Tày kiên cường
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, thủ lĩnh người Tày Hoàng Đình Kinh chọn núi Tinh Lãng (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) làm căn cứ chính cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Nơi này có địa thế hiểm trở, thuận lợi cho phòng thủ và tổ chức lực lượng kháng chiến lâu dài.
Hoàng Đình Kinh (còn gọi là Cai Kinh), người dân tộc Tày, sinh năm 1830 tại xã Hòa Lạc, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Hoàng Đình Khoa, làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông thay cha làm cai tổng nên còn có tên gọi là Cai Kinh.
Hoàng Đình Kinh (còn gọi là Cai Kinh), người dân tộc Tày, sinh năm 1830 tại xã Hòa Lạc, tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Hoàng Đình Khoa, làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông thay cha làm cai tổng nên còn có tên gọi là Cai Kinh.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Nguyễn Duy Hiệu và Nghĩa hội Quảng Nam
Nghĩa hội hình thành
Trần Văn Dư húy Tự Dư, thụy Hoán Nhược, sinh năm Kỷ Hợi (1839) tại làng An Mỹ Tây, H.Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay thuộc xã Tây Hồ, TP.Đà Nẵng), trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ (1858), đỗ Cử nhân ân khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875).
Cuối năm Quý Mùi (1884), Trần Văn Dư được điều về Quảng Nam giữ chức Sơn phòng sứ. Sơn Phòng là một tổ chức quân sự đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và kiểm soát các vùng biên giới, miền núi hiểm trở của đất nước. Vì vậy, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (tháng 7.1885), triều đình do Hoàng Thái hậu Từ Dụ nhiếp chính có xu hướng hòa hoãn với Pháp, nhận thấy việc Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ là điều bất lợi nên ra dụ điều chuyển ông vào làm Bố chính sứ Bình Thuận và cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu lên thay. Trần Văn Dư khước từ không nhận chỉ dụ, tuy vẫn bàn giao chức vụ, rồi bỏ về quê, không hợp tác với triều đình.
Trần Văn Dư húy Tự Dư, thụy Hoán Nhược, sinh năm Kỷ Hợi (1839) tại làng An Mỹ Tây, H.Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay thuộc xã Tây Hồ, TP.Đà Nẵng), trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông đỗ tú tài khoa Mậu Ngọ (1858), đỗ Cử nhân ân khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm Ất Hợi (1875).
Chân dung Nguyễn Duy Hiệu. Ảnh: T.L
Cuối năm Quý Mùi (1884), Trần Văn Dư được điều về Quảng Nam giữ chức Sơn phòng sứ. Sơn Phòng là một tổ chức quân sự đặc thù, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và kiểm soát các vùng biên giới, miền núi hiểm trở của đất nước. Vì vậy, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (tháng 7.1885), triều đình do Hoàng Thái hậu Từ Dụ nhiếp chính có xu hướng hòa hoãn với Pháp, nhận thấy việc Trần Văn Dư làm Sơn phòng sứ là điều bất lợi nên ra dụ điều chuyển ông vào làm Bố chính sứ Bình Thuận và cử Phó bảng Nguyễn Đình Tựu lên thay. Trần Văn Dư khước từ không nhận chỉ dụ, tuy vẫn bàn giao chức vụ, rồi bỏ về quê, không hợp tác với triều đình.
40 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Mai Xuân Thưởng phất cao cờ nghĩa
Phong trào Cần Vương ở Bình Định (1885 - 1887) là một bộ phận quan trọng của phong trào Cần Vương cả nước với đặc điểm nổi bật là hưởng ứng sớm, phát triển mạnh mẽ, có quy mô lớn và mang tính nhân dân sâu rộng.
Đào Doãn Địch, người mở đầu
Người đầu tiên tổ chức lực lượng nghĩa binh hưởng ứng dụ Cần Vương ở Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai) là Đào Doãn Địch. Ông sinh năm Quý Tỵ (1833), người làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay thuộc xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai.
Ngày 5.7.1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), ban chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân đứng lên chống Pháp. Đào Doãn Địch được Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, người cầm đầu phe chủ chiến trong triều đình, sai về Bình Định, làm nhiệm vụ phổ biến chiếu Cần Vương, thăm dò tình hình địch và tổ chức lực lượng kháng chiến.
Đào Doãn Địch, người mở đầu
Người đầu tiên tổ chức lực lượng nghĩa binh hưởng ứng dụ Cần Vương ở Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai) là Đào Doãn Địch. Ông sinh năm Quý Tỵ (1833), người làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay thuộc xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai.
Ngày 5.7.1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), ban chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân đứng lên chống Pháp. Đào Doãn Địch được Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, người cầm đầu phe chủ chiến trong triều đình, sai về Bình Định, làm nhiệm vụ phổ biến chiếu Cần Vương, thăm dò tình hình địch và tổ chức lực lượng kháng chiến.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Lê Thành Phương và cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên
Tháng 7.1885, khi chiếu Cần Vương được đưa đến Phú Yên, nhiều sĩ phu, văn thân yêu nước đứng ra thành lập các đạo quân ứng nghĩa để chống giặc, trong đó có Thống soái Bình Tây Lê Thành Phương.
Thủ lĩnh nghĩa quân tài ba
Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh, tỉnh Phú Yên cũ (nay là thôn Mỹ Phú, xã Ô Loan, tỉnh Đắk Lắk), là con thứ sáu trong 8 người con của cụ ông Lê Thanh Cao và cụ bà Nguyễn Thị Minh.
Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh, tỉnh Phú Yên cũ (nay là thôn Mỹ Phú, xã Ô Loan, tỉnh Đắk Lắk), là con thứ sáu trong 8 người con của cụ ông Lê Thanh Cao và cụ bà Nguyễn Thị Minh.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Quyết tử chiến đấu ở căn cứ Ba Đình
Cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất bại, nhưng tên tuổi Đinh Công Tráng và các nghĩa sĩ Cần Vương mãi mãi khắc ghi vào lịch sử giữ nước oai hùng.
Ông Chánh tổng yêu nước
Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần (1842), tại làng Tràng Xá, nay là xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình. Khi Pháp đưa quân xâm chiếm Bắc kỳ lần thứ 2 (năm 1882), Đinh Công Tráng (khi đó đang là Chánh tổng) tình nguyện gia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm, rồi tham gia trận Cầu Giấy ngày 19.5.1883, đánh bại đội quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy.
Ông Chánh tổng yêu nước
Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần (1842), tại làng Tràng Xá, nay là xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình. Khi Pháp đưa quân xâm chiếm Bắc kỳ lần thứ 2 (năm 1882), Đinh Công Tráng (khi đó đang là Chánh tổng) tình nguyện gia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm, rồi tham gia trận Cầu Giấy ngày 19.5.1883, đánh bại đội quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy
Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, hai thủ lĩnh Đinh Gia Quế và Nguyễn Thiện Thuật đã lãnh đạo người dân vùng Bãi Sậy (Hưng Yên) đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.
Cờ nghĩa của Đinh Gia Quế
Đinh Gia Quế (1825 - 1885), còn được biết đến với tên gọi Đổng Quế, là vị thủ lĩnh tối cao đầu tiên của phong trào vũ trang chống Pháp tại Bãi Sậy vào cuối thế kỷ 19. Ông sinh ngày 10.12.1825 (tức ngày 1.11 năm Ất Dậu) tại làng Nghiêm Xá, phủ Thường Tín (nay thuộc TP.Hà Nội). Thuở còn trẻ, Đinh Gia Quế theo con đường Nho học và đỗ Khóa sinh. Sau đó, ông chuyển đến làng Thọ Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) để dạy học, rồi thăng tiến qua các chức vụ Chánh tổng và Chánh tuần huyện Đông Yên.
Cờ nghĩa của Đinh Gia Quế
Đinh Gia Quế (1825 - 1885), còn được biết đến với tên gọi Đổng Quế, là vị thủ lĩnh tối cao đầu tiên của phong trào vũ trang chống Pháp tại Bãi Sậy vào cuối thế kỷ 19. Ông sinh ngày 10.12.1825 (tức ngày 1.11 năm Ất Dậu) tại làng Nghiêm Xá, phủ Thường Tín (nay thuộc TP.Hà Nội). Thuở còn trẻ, Đinh Gia Quế theo con đường Nho học và đỗ Khóa sinh. Sau đó, ông chuyển đến làng Thọ Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) để dạy học, rồi thăng tiến qua các chức vụ Chánh tổng và Chánh tuần huyện Đông Yên.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025) Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên
Cuộc khởi nghĩa Cần Vương đầu tiên trong cả nước nổ ra tại Quảng Ngãi do Chánh tướng Lê Trung Đình cùng hai phó tướng là Nguyễn Tự Tân và Nguyễn Tấn Kỳ lãnh đạo.
Ba vị thủ lĩnh
Lê Trung Đình hiệu là Long Cang, sinh năm Đinh Tỵ (1857), người làng Phú Nhơn, nay thuộc phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi. Ông thi đỗ cử nhân khoa Giáp Thân (1884) ở trường thi Hương Bình Định. Là người dũng lược và có uy tín, Lê Trung Đình được văn thân Quảng Ngãi cử làm Chánh quản hương binh, sau đó lại được Nguyễn Duy Cung - lúc bấy giờ đang giữ chức Tham biện sơn phòng Nghĩa Định, bí mật cử ra kinh đô yết kiến người cầm đầu phe chủ chiến là đại thần Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh tổ chức lực lượng và xây dựng kế hoạch chuẩn bị chống Pháp.
Ba vị thủ lĩnh
Lê Trung Đình hiệu là Long Cang, sinh năm Đinh Tỵ (1857), người làng Phú Nhơn, nay thuộc phường Trương Quang Trọng, tỉnh Quảng Ngãi. Ông thi đỗ cử nhân khoa Giáp Thân (1884) ở trường thi Hương Bình Định. Là người dũng lược và có uy tín, Lê Trung Đình được văn thân Quảng Ngãi cử làm Chánh quản hương binh, sau đó lại được Nguyễn Duy Cung - lúc bấy giờ đang giữ chức Tham biện sơn phòng Nghĩa Định, bí mật cử ra kinh đô yết kiến người cầm đầu phe chủ chiến là đại thần Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh tổ chức lực lượng và xây dựng kế hoạch chuẩn bị chống Pháp.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương
Sau khi dẹp được phe chủ hòa, khống chế triều nội, phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tích cực chuẩn bị lực lượng đánh Pháp. Căn cứ Tân Sở ở miền núi Quảng Trị được xây dựng để tính kế lâu dài.
Kinh thành thất thủ
Về phía Pháp, cuối tháng 5.1885, tướng De Courcy được bổ làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung kỳ. Ngày 2.7.1885, De Courcy đến Huế, mang theo một tiểu đoàn lính Phi châu cùng những yêu sách ngang ngược như yêu cầu Nam triều ra lệnh cho sĩ phu và dân chúng tuân phục hoàn toàn chính thể bảo hộ, đặt điều kiện là khi phái đoàn vào đến Hoàng thành, vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng đích thân ra đón. Ngoài ra còn đòi tất cả nhân viên trong phái đoàn của Pháp phải được đi vào Đại Nội bằng cửa chính Ngọ Môn. Sự ngạo mạn của phía Pháp khiến phe chủ chiến tức giận và quyết định ra tay trước.
Kinh thành thất thủ
Về phía Pháp, cuối tháng 5.1885, tướng De Courcy được bổ làm Toàn quyền chính trị và quân sự tại Bắc và Trung kỳ. Ngày 2.7.1885, De Courcy đến Huế, mang theo một tiểu đoàn lính Phi châu cùng những yêu sách ngang ngược như yêu cầu Nam triều ra lệnh cho sĩ phu và dân chúng tuân phục hoàn toàn chính thể bảo hộ, đặt điều kiện là khi phái đoàn vào đến Hoàng thành, vua Hàm Nghi phải bước xuống ngai vàng đích thân ra đón. Ngoài ra còn đòi tất cả nhân viên trong phái đoàn của Pháp phải được đi vào Đại Nội bằng cửa chính Ngọ Môn. Sự ngạo mạn của phía Pháp khiến phe chủ chiến tức giận và quyết định ra tay trước.
140 năm Phong trào Cần Vương (1885 - 2025): Triều đình rối ren, đất nước rơi vào tay giặc
140 năm đã trôi qua từ ngày đại thần Tôn Thất Thuyết, lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất, và sau đó vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần thứ hai, làm bùng lên phong trào yêu nước đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược với hàng loạt cuộc khởi nghĩa của sĩ phu văn thân và nhân dân VN.
Năm 1883, vua Tự Đức băng hà sau 36 năm trị vì. Cái chết của ông vua này, cùng những mâu thuẫn vốn sẵn trong triều nội, đã góp phần đẩy đất nước vào một giai đoạn bi đát.
Năm 1883, vua Tự Đức băng hà sau 36 năm trị vì. Cái chết của ông vua này, cùng những mâu thuẫn vốn sẵn trong triều nội, đã góp phần đẩy đất nước vào một giai đoạn bi đát.
Tiếng súng xâm lăng ở Đà Nẵng
Ngày 31.8.1858, lấy cớ bảo vệ quyền lợi thương mại và truyền giáo, liên quân Pháp và Tây Ban Nha do Phó đô đốc Charles Rigault De Genouilly chỉ huy đưa chiến thuyền đến ngoài khơi Đà Nẵng và hôm sau 1.9.1858, chúng tấn công chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm đất nước ta của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
Ngày 31.8.1858, lấy cớ bảo vệ quyền lợi thương mại và truyền giáo, liên quân Pháp và Tây Ban Nha do Phó đô đốc Charles Rigault De Genouilly chỉ huy đưa chiến thuyền đến ngoài khơi Đà Nẵng và hôm sau 1.9.1858, chúng tấn công chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm đất nước ta của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
26 thg 1, 2026
Chợ Viềng - Điểm hẹn văn hóa tâm linh
Chợ Viềng - phiên chợ đặc biệt chỉ họp duy nhất một lần trong năm tại vùng đất Trung Thành (Thiên Bản xưa, nay thuộc xã Hiển Khánh, tỉnh Ninh Bình) là biểu tượng văn hóa độc đáo, mang đậm chiều sâu tinh thần và ký ức cộng đồng của bao thế hệ không chỉ của người dân nơi đây mà còn là phiên chợ kỳ thú của du khách thập phương nhân dịp đầu năm.
Phiên chợ “mua may, bán rủi”
Phiên chợ “mua may, bán rủi”
Chợ Viềng không đơn thuần là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa; phiên chợ chỉ diễn ra vào đêm mùng 7 rạng sáng mùng 8 tháng Giêng âm lịch - khoảnh khắc giao hòa giữa trời - đất - con người, giữa năm cũ và năm mới. Chính vì mỗi năm chỉ một lần ấy khiến Chợ Viềng trở thành điểm hẹn văn hóa thiêng liêng, được người dân và du khách thập phương háo hức chờ đón. Người đến chợ không đơn thuần là mua bán mà gửi gắm ước vọng về một năm mới bình an, hanh thông và đủ đầy, vậy nên trong dân gian mới gọi là phiên chợ “mua may, bán rủi”.
Những mái nhà rêu phong dưới chân núi Tây Côn Lĩnh
Những ngôi nhà với mái rêu phong xanh giữa núi rừng vùng biên giới Thanh Thủy (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ - TTXVN
Ẩn mình dưới dãy Tây Côn Lĩnh hùng vĩ, làng rêu Xà Phìn - xã biên giới Thanh Thủy (Tuyên Quang) hiện ra như một bức tranh thủy mặc. Những nếp nhà sàn lợp lá cọ phủ kín rêu xanh, hòa quyện cùng mây trắng, ruộng bậc thang và những gốc chè Shan Tuyết cổ thụ, tạo nên vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính, rất riêng của miền biên viễn.
Heo đất - Sắc màu truyền thống trong nhịp mua sắm hiện đại
Mỗi dịp Tết đến xuân về, hình ảnh những chú heo đất với dáng tròn đầy, màu sắc tươi tắn lại xuất hiện khắp các chợ quê, cửa hàng và trong mỗi mái nhà, như một lời chúc cho năm mới an khang, tài lộc dồi dào và khởi đầu tốt đẹp.
Thời điểm cận kề Tết Bính Ngọ 2026, các hộ nung heo đất truyền thống tại Phường Tân Khánh, TP. Hồ Chí Minh lại trở nên nhộn nhịp hơn.
Dù chịu tác động của biến động thị trường và sự cạnh tranh từ các sản phẩm tiết kiệm hiện đại nhưng heo đất – vật phẩm quen thuộc gắn với Tết cổ truyền - vẫn giữ được chỗ đứng riêng nhờ giá trị văn hóa và nhu cầu biếu tặng dịp đầu năm.
Thời điểm cận kề Tết Bính Ngọ 2026, các hộ nung heo đất truyền thống tại Phường Tân Khánh, TP. Hồ Chí Minh lại trở nên nhộn nhịp hơn.
Dù chịu tác động của biến động thị trường và sự cạnh tranh từ các sản phẩm tiết kiệm hiện đại nhưng heo đất – vật phẩm quen thuộc gắn với Tết cổ truyền - vẫn giữ được chỗ đứng riêng nhờ giá trị văn hóa và nhu cầu biếu tặng dịp đầu năm.
Bún khô ngũ sắc - nét độc đáo của ẩm thực Cao Bằng
Nhiều màu sắc rực rỡ tạo nên nét độc đáo của sản phẩm bún khô Cao Bằng. Ảnh: Chu Hiệu-TTXVN
Từ những giống gạo cổ của người dân tộc thiểu số sinh sống tại Cao Bằng kết hợp với kinh nghiệm và áp dụng khoa học kĩ thuật, các cơ sở sản xuất bún trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã sáng tạo ra bún khô ngũ sắc. Ngoài bún cẩm (màu tím), bún ngô (màu vàng), còn có các loại bún làm từ gạo lứt đỏ, lá chùm ngây màu xanh lá, hoa đậu biếc màu xanh trời, khoai lang tím…Bún ngũ sắc với cách làm dân giã, từ các nguyên liệu từ thiên nhiên, an toàn, tốt cho sức khỏe đang ngày càng được người dân yêu thích, sử dụng trong các món ăn hàng ngày. Một món ăn tuy đơn giản nhưng lại mang nhiều màu sắc như chính con người miền núi Cao Bằng.
25 thg 1, 2026
Lò rèn Tơ Niam Dup - Điểm nhấn độc đáo trong văn hóa của người Xơ Đăng
Người Xơ Đăng - nhánh Tơ Đrá, sinh sống tập trung ở các xã Đăk Ui, Ngọc Réo, Đăk Kôi, tỉnh Quảng Ngãi. Nằm giữa không gian trùng điệp của núi rừng, chuyện phục dựng và gìn giữ lò rèn Tơ Niam Dup theo nguyên mẫu đang góp phần tạo điểm nhấn độc đáo trong văn hóa và phát triển du lịch của người Xơ Đăng nơi đây.
Thưởng thức cá tầm nướng than hoa trên núi Tam Đảo
Tam Đảo là vùng đất lạnh, sương dày và những dòng nước sâu, đây là điều kiện tự nhiên tạo nên cá tầm có thớ thịt chắc, vị ngọt rõ và khả năng chịu nhiệt tốt khi chế biến. Trong cái lạnh ấy, bếp lửa không những dùng để sưởi ấm, để quây quần mà còn để làm chín những món ăn cần thời gian và chiều sâu hương vị. Cá tầm nướng than hoa ra đời từ chính tinh thần đó, khi cá được ướp đủ lâu, đặt lên bếp than hồng và để lửa, khói cùng gia vị thấm dần vào từng thớ thịt, tạo nên một món ăn mộc mạc nhưng đậm đà, tôn vinh trọn vẹn giá trị của nguyên liệu.
Từ dòng nước lạnh nơi núi cao Tam Đảo, cá tầm được đưa về bếp than hoa, ướp chậm, nướng vừa, để lớp da xém lửa và thớ thịt giữ trọn vị ngọt. Mùi khói lan nhẹ, dậy lên hương cá, mở ra một cách thưởng thức mộc mạc nhưng đầy cuốn hút. Trước khi nướng, cá tầm được ướp trong nhiều giờ với các gia vị bản địa. Không phải để át vị cá, mà để đánh thức vị ngọt sẵn có trong thịt. Gia vị thấm chậm, đi sâu, khiến phần thịt trở nên mềm hơn nhưng không bở và đậm đà hơn. Khoảng thời gian chờ đợi ấy là bước chuẩn bị cần thiết, để khi cá đặt lên than, hương vị không bốc lên gấp gáp mà lan dần, đều và sâu.
Cá tầm nướng than hoa, món ăn nên thưởng thức khi đến với Tam Đảo. Ảnh: Trần Thanh Giang/Báo ảnh Việt Nam
Từ dòng nước lạnh nơi núi cao Tam Đảo, cá tầm được đưa về bếp than hoa, ướp chậm, nướng vừa, để lớp da xém lửa và thớ thịt giữ trọn vị ngọt. Mùi khói lan nhẹ, dậy lên hương cá, mở ra một cách thưởng thức mộc mạc nhưng đầy cuốn hút. Trước khi nướng, cá tầm được ướp trong nhiều giờ với các gia vị bản địa. Không phải để át vị cá, mà để đánh thức vị ngọt sẵn có trong thịt. Gia vị thấm chậm, đi sâu, khiến phần thịt trở nên mềm hơn nhưng không bở và đậm đà hơn. Khoảng thời gian chờ đợi ấy là bước chuẩn bị cần thiết, để khi cá đặt lên than, hương vị không bốc lên gấp gáp mà lan dần, đều và sâu.
Ẩm thực chay và hành trình bền vững cho sức khỏe và môi trường
Món mít non kho chay. Ảnh: Hoàng Liên Sơn - TTXVN
Trong những năm gần đây, xu hướng “ăn lành - sống xanh” đã ngày càng lan tỏa mạnh mẽ tại Việt Nam, trở thành một lối sống được nhiều người dân, đặc biệt là giới trẻ, lựa chọn. Trong đó, ẩm thực chay lành nổi bật như một lựa chọn không chỉ tốt cho sức khỏe cá nhân mà còn góp phần bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững cho hành tinh.
Truyền thống ăn chay tại Việt Nam đã tồn tại từ lâu, gắn liền với yếu tố tín ngưỡng, tâm linh, đặc biệt là trong các dịp lễ, Tết hay các ngày rằm, mùng một âm lịch. Nhiều người tìm đến ẩm thực chay để cải thiện sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Các chuyên gia dinh dưỡng, như bác sĩ Mai Hằng, khẳng định chế độ ăn chay khoa học, giàu rau xanh, trái cây, chất xơ, vitamin và khoáng chất có thể giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường type 2, và một số loại ung thư.
Trung ương Cục miền Nam - Điểm hẹn tri ân, bồi đắp niềm tự hào dân tộc
Nhà làm việc của cán bộ lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam đặt trong Khu căn cứ được xây dựng giữa rừng nguyên sinh. Ảnh: Giang Phương - TTXVN
Mỗi bước chân trở lại nơi đây như chạm vào dấu tích những năm tháng gian khổ, nơi ý chí và khát vọng độc lập của dân tộc được hun đúc. Hành trình về Trung ương Cục miền Nam, hay còn gọi Căn cứ “R,” là hành trình trở về cội nguồn, để tưởng nhớ, biết ơn và tiếp nối những giá trị lịch sử thiêng liêng.
24 thg 1, 2026
Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê: Hội tụ những giá trị nổi bật để trở thành Di sản văn hoá thế giới
Khu di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo - Ba Thê (xã Óc Eo, tỉnh An Giang) là một quần thể di tích đặc biệt quan trọng phản ánh nền văn hóa Óc Eo cổ đại (thế kỷ 1-7) và Vương quốc Phù Nam. Đây là quần thể di tích kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng có quy mô, nơi tập trung dày đặc các di tích khảo cổ đặc sắc nhất ở Nam Bộ; góp phần phác họa diện mạo về một trung tâm tôn giáo lớn và đời sống văn hóa rất đặc sắc của cư dân đô thị cổ Óc Eo trong lịch sử.
"Mộc Châu - Hẹn ước mùa hoa"
Lễ khai mạc chương trình Du lịch năm 2026 với chủ đề "Mộc Châu - Hẹn ước mùa hoa" đã được tổ chức vào tối 17/1, tại Quảng trường 8/5, hứa hẹn mở màn cho một năm du lịch sôi động tại Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, điểm đến thiên nhiên hàng đầu thế giới.
Lễ khai mạc chương trình Du lịch năm 2026 với chủ đề "Mộc Châu - Hẹn ước mùa hoa" mở màn bằng màn diễu hành xe hoa đường phố nhiều sắc màu, giới thiệu, quảng bá các loại hoa rực rỡ trên cao nguyên Mộc Châu, như: Hoa đào, hoa mận, hoa ban, hoa lan, hoa lau, cúc họa mi…
Lễ khai mạc chương trình Du lịch năm 2026 với chủ đề "Mộc Châu - Hẹn ước mùa hoa" mở màn bằng màn diễu hành xe hoa đường phố nhiều sắc màu, giới thiệu, quảng bá các loại hoa rực rỡ trên cao nguyên Mộc Châu, như: Hoa đào, hoa mận, hoa ban, hoa lan, hoa lau, cúc họa mi…
Sớm tinh mơ đi chợ cá làng chài Tam Tiến ở Đà Nẵng
Hãy đến làng chài Tam Tiến trước lúc rạng đông để cảm nhận trọn vẹn sức sống của một làng chài ven biển và thưởng thức hải sản tươi rói.
Làng chài Tam Tiến (xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng) là điểm đến lý tưởng để trải nghiệm cuộc sống ngư dân và tận hưởng hơi thở của biển cả. Không khí trong lành đến mức chỉ cần một hơi thở sâu, bạn sẽ cảm nhận được sự thư thái, xua tan những mệt mỏi của phố thị.
Làng chài Tam Tiến (xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng) là điểm đến lý tưởng để trải nghiệm cuộc sống ngư dân và tận hưởng hơi thở của biển cả. Không khí trong lành đến mức chỉ cần một hơi thở sâu, bạn sẽ cảm nhận được sự thư thái, xua tan những mệt mỏi của phố thị.
Vườn quốc gia Tràm Chim: Kinh nghiệm khám phá từ A - Z cho người đi lần đầu
Với vẻ đẹp hoang sơ của rừng tràm, kênh rạch, Vườn Quốc gia Tràm Chim thích hợp cho những chuyến đi tạm rời xa phố thị, hòa mình vào thiên nhiên.
Vườn Quốc gia (VQG) Tràm Chim được biết đến là khu đất ngập nước có nhiều loài chim quý ở miền Tây. Vào năm 2012, nơi này được công nhận là khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới.
Không ồn ào, đông đúc, VQG Tràm Chim hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của rừng tràm, đầm sen và là nơi sinh sống của các loài động thực vật phong phú.
Vườn Quốc gia (VQG) Tràm Chim được biết đến là khu đất ngập nước có nhiều loài chim quý ở miền Tây. Vào năm 2012, nơi này được công nhận là khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới.
Không ồn ào, đông đúc, VQG Tràm Chim hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của rừng tràm, đầm sen và là nơi sinh sống của các loài động thực vật phong phú.
23 thg 1, 2026
Ngắm biển mây trên đèo Keo Lôm
Khung cảnh bình minh đầy thơ mộng trên đèo Keo Lôm. Ảnh: Xuân Tư – TTXVN
Mỗi sáng sớm, đèo Keo Lôm thuộc xã Na Son (tỉnh Điện Biên) lại bừng tỉnh giữa biển mây trắng xóa dưới thung lũng. Trong ánh bình minh vàng óng, những dãy núi nối tiếp nhau hiện lên mờ ảo, tạo nên bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Vẻ đẹp nguyên sơ ấy khiến Keo Lôm trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách và những người yêu cảnh quan núi rừng Tây Bắc.
Bên trong Bảo tàng Phở đầu tiên của Việt Nam
Bảo tàng Phở (Phở Museum) tại số 211 Nguyễn Thái Học, phường Bến Thành chính thức đi vào hoạt động.
Ngày 15.1, Bảo tàng Phở (Phở Museum) - Bảo tàng ẩm thực đầu tiên của Việt Nam chính thức khai trương. Đây là bảo tàng ẩm thực ngoài công lập do Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM cấp phép hoạt động. Ông Trần Văn Bắc - Nhà sáng lập Bảo tàng Phở, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Điểm đến Du lịch Việt Nam - cho biết, bảo tàng được hình thành với mục tiêu tái hiện hành trình hơn 100 năm của phở Việt, từ những gánh hàng rong đến khi trở thành món ăn được yêu thích trên toàn cầu.
Ảnh hiếm về 9 di sản thế giới ở Việt Nam hơn 30 năm trước
Bộ ảnh 9 di sản thế giới ở Việt Nam tái hiện vẻ đẹp trầm mặc của những di sản văn hóa, thiên nhiên... qua ống kính một phượt thủ lão làng.
Khám phá rừng tràm đẹp và nổi tiếng nhất Việt Nam
Với diện tích hơn 800 ha, rừng tràm Trà Sư được xem là “lá phổi xanh” của vùng Bảy Núi, đồng thời là nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập nước đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long. Nằm giữa vùng Thất Sơn, rừng tràm Trà Sư (xã Núi Cấm, tỉnh An Giang) nổi bật với hệ sinh thái ngập nước đặc trưng của Tây Nam Bộ.
Màu xanh bạt ngàn của tràm, bèo phủ kín mặt nước, xen lẫn ánh nắng vàng tạo nên khung cảnh thiên nhiên yên bình, cuốn hút. Không chỉ là "lá phổi xanh" điều hòa môi trường, Trà Sư còn là khu bảo tồn đa dạng sinh học với nhiều loài chim, thủy sinh quý hiếm.
Màu xanh bạt ngàn của tràm, bèo phủ kín mặt nước, xen lẫn ánh nắng vàng tạo nên khung cảnh thiên nhiên yên bình, cuốn hút. Không chỉ là "lá phổi xanh" điều hòa môi trường, Trà Sư còn là khu bảo tồn đa dạng sinh học với nhiều loài chim, thủy sinh quý hiếm.
22 thg 1, 2026
Cận cảnh bia điện Nam Giao - đàn tế trời đất Thăng Long xưa
Tấm bia đá duy nhất còn lại của đàn Nam Giao Thăng Long nơi vua tế trời cầu mưa thuận gió hòa nhận là Bảo vật quốc gia.
Bia điện Nam Giao hiện nằm trong quần thể hệ thống Trưng bày ngoài trời và không gian tưởng niệm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hiện vật quý hiếm này là một minh chứng cho lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Theo Đại Việt Sử ký toàn thư viết: “Giáp Tuất, năm thứ 15 (1154) tháng 9, vua ngự ra cửa nam thành Đại La xem đắp đàn Viên Khâu” (Nam Giao). Như vậy, chính vào thời Lý, đàn tế trời (còn được gọi là đàn Hoàn Khâu hay Viên Khâu) đã được lập tại kinh đô Thăng Long.
Sang đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1643) đã cho khôi phục các nghi lễ tế tại đàn này và gọi là Nam Giao. Cũng theo Đại Việt Sử ký toàn thư: “Trước đây, đàn Nam Giao đã có điện, nhưng quy mô còn nhỏ hẹp. Đến đây Vương sai làm thêm.
Bia điện Nam Giao hiện nằm trong quần thể hệ thống Trưng bày ngoài trời và không gian tưởng niệm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hiện vật quý hiếm này là một minh chứng cho lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Theo Đại Việt Sử ký toàn thư viết: “Giáp Tuất, năm thứ 15 (1154) tháng 9, vua ngự ra cửa nam thành Đại La xem đắp đàn Viên Khâu” (Nam Giao). Như vậy, chính vào thời Lý, đàn tế trời (còn được gọi là đàn Hoàn Khâu hay Viên Khâu) đã được lập tại kinh đô Thăng Long.
Sang đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1643) đã cho khôi phục các nghi lễ tế tại đàn này và gọi là Nam Giao. Cũng theo Đại Việt Sử ký toàn thư: “Trước đây, đàn Nam Giao đã có điện, nhưng quy mô còn nhỏ hẹp. Đến đây Vương sai làm thêm.
Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Những địa danh huyền thoại
Trong biên khảo Tìm hiểu đất Hậu Giang, nhà văn Sơn Nam chép: "Cà Mau do tiếng Tuk Khmâu (nước đen), gọi trại Khmâu thành Cà Mau. Ở sông Cái Tàu (U Minh Hạ) còn gia phả của họ Đào, là họ xưa nhứt và đông đảo nhứt. Nhưng chúng tôi chưa được xem. Chỉ nghe nói họ Đào đến Tắc Thủ trước thời Gia Long tẩu quốc".
Tên Cà Mau có từ khi nào ?
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép Hà Tiên tục gọi Mang Khảm, người Việt gọi Phương Thành. Năm 1680, vì bất phục nhà Thanh, Mạc Cửu đem gia đình từ phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, chạy về phương Nam… Mạc Cửu thấy ở phủ Sài Mạt có đông người Việt, người Hoa, Cao Miên, Chà Và tụ tập mở sòng bạc thu thuế, gọi là thuế hoa chi, mới lãnh thầu thuế ấy, lại đào được bạc chôn, trở nên giàu có. Mạc Cửu bèn chiêu mộ dân lưu tán người Việt lập thành 7 xã thôn ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau. Tương truyền xứ này thường thấy tiên hiện trên sông, nên gọi là Hà Tiên. Rồi sai thuộc hạ mang biểu văn tới kinh đô Phú Xuân dâng trình, xin làm người đứng đầu xứ.
Tên Cà Mau có từ khi nào ?
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép Hà Tiên tục gọi Mang Khảm, người Việt gọi Phương Thành. Năm 1680, vì bất phục nhà Thanh, Mạc Cửu đem gia đình từ phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, chạy về phương Nam… Mạc Cửu thấy ở phủ Sài Mạt có đông người Việt, người Hoa, Cao Miên, Chà Và tụ tập mở sòng bạc thu thuế, gọi là thuế hoa chi, mới lãnh thầu thuế ấy, lại đào được bạc chôn, trở nên giàu có. Mạc Cửu bèn chiêu mộ dân lưu tán người Việt lập thành 7 xã thôn ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau. Tương truyền xứ này thường thấy tiên hiện trên sông, nên gọi là Hà Tiên. Rồi sai thuộc hạ mang biểu văn tới kinh đô Phú Xuân dâng trình, xin làm người đứng đầu xứ.
Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Cà Mau có cái Ao Vua
Cà Mau xưa có một xóm gọi là xóm Ao Kho. Tương truyền, nơi đây có cái ao do chúa Nguyễn Ánh ra lệnh đào để lấy nước ngọt cho binh lính sử dụng trong thời gian đồn trú ở vùng này.
Dấu tích Ao Kho hiện không còn, nhưng gần đó có nhà thờ Ao Kho cạnh sông Gành Hào, nay thuộc P.Hòa Thành, Cà Mau.
Nhà tôi xưa ở đất vua…
Bà Bảy Hòa (78 tuổi) nhớ lại: "Vị trí Ao Kho cách đường Huỳnh Thúc Kháng hiện nay hơn 100 m, nhưng bây giờ đã là vườn và ao nuôi tôm của người dân. Gia đình tôi ở xóm này xưa lắm. Lúc 10 tuổi, má tôi thường sai tôi tới Ao Kho gánh nước về xài. Ao rất sâu, rộng khoảng 1 công đất, nước rất trong và ngọt. Bờ ao có hai chỗ xây bậc thang bằng đá để bà con lên xuống gánh nước cho tiện. Ở đây mỗi năm sông Gành Hào có 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt. Vào mùa nước mặn, đầu trên xóm dưới đều nhờ vào cái ao đó. Người ta lấy nước rất đông nhưng nước trong ao không bao giờ cạn. Khi lớn lên, tôi mới nghe kể lại sự tích, đó là cái Ao Vua".
Dấu tích Ao Kho hiện không còn, nhưng gần đó có nhà thờ Ao Kho cạnh sông Gành Hào, nay thuộc P.Hòa Thành, Cà Mau.
Nhà tôi xưa ở đất vua…
Bà Bảy Hòa (78 tuổi) nhớ lại: "Vị trí Ao Kho cách đường Huỳnh Thúc Kháng hiện nay hơn 100 m, nhưng bây giờ đã là vườn và ao nuôi tôm của người dân. Gia đình tôi ở xóm này xưa lắm. Lúc 10 tuổi, má tôi thường sai tôi tới Ao Kho gánh nước về xài. Ao rất sâu, rộng khoảng 1 công đất, nước rất trong và ngọt. Bờ ao có hai chỗ xây bậc thang bằng đá để bà con lên xuống gánh nước cho tiện. Ở đây mỗi năm sông Gành Hào có 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt. Vào mùa nước mặn, đầu trên xóm dưới đều nhờ vào cái ao đó. Người ta lấy nước rất đông nhưng nước trong ao không bao giờ cạn. Khi lớn lên, tôi mới nghe kể lại sự tích, đó là cái Ao Vua".
Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Độc đáo tiệc làng ở miếu Ông Bổn
Miếu Ông Bổn xưa có tên là Phước Lãnh Miếu (còn gọi là chùa Ông Bổn) do người Hoa tạo lập. Đây là hội quán của bang Phước Kiến, thờ Phước Đức Chánh Thần, vị thần chủ quản xã thôn bang hội, tương tự như Bổn Cảnh Thành Hoàng của người Việt.
Ngôi miếu xưa 170 năm
Miếu Ông Bổn tọa lạc trên đường Trương Phùng Xuân, P. Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau. Cổng chính lợp mái ngói cong, trang trí hình rồng ở đỉnh. Phần trên của cổng có hàng chữ Hán màu vàng nổi bật trên nền đỏ: Phước Đức Miếu. Bên dưới là dòng chữ quốc ngữ ghi: Miếu Ông Bổn. Ở gian chánh điện, hai bên cột có câu đối viết bằng chữ Hán ca ngợi Phước Đức Chánh Thần ban sự may mắn bình an cho người dân.
Ngôi miếu xưa 170 năm
Miếu Ông Bổn tọa lạc trên đường Trương Phùng Xuân, P. Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau. Cổng chính lợp mái ngói cong, trang trí hình rồng ở đỉnh. Phần trên của cổng có hàng chữ Hán màu vàng nổi bật trên nền đỏ: Phước Đức Miếu. Bên dưới là dòng chữ quốc ngữ ghi: Miếu Ông Bổn. Ở gian chánh điện, hai bên cột có câu đối viết bằng chữ Hán ca ngợi Phước Đức Chánh Thần ban sự may mắn bình an cho người dân.
Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Truyền thuyết miếu Bà Thiên Hậu
Miếu Bà Thiên Hậu (còn gọi là chùa Bà Mã Châu) là cơ sở tín ngưỡng, đồng thời là Hội quán của các bang Triều Châu, Hải Nam và Quảng Đông (người Hoa) tọa lạc trên đường Lê Lợi, P.An Xuyên, Cà Mau.
Ngôi miếu qua 3 thế kỷ
Thiên Hậu cung, theo bức hoành viết bằng chữ Hán treo giữa cửa vào chánh điện, có lối kiến trúc tương tự kiến trúc phổ biến ở các ngôi chùa miếu người Hoa, theo mô hình "tứ hợp viện" được bố cục theo hình chữ nhật, lấy trục dọc làm trục đối xứng với quần thể gồm tiền điện, sân thiên tĩnh, hương đình, chánh điện và hai dãy nhà dọc hai bên gọi là đông lang và tây lang. Vật liệu trong gian chánh điện hầu hết làm bằng gỗ quý, chạm trổ tinh vi sắc sảo.
Theo lời của các vị trong Ban trị sự, ngôi miếu này ngày xưa gọi là miếu Bà Mã Châu. Miếu được xây dựng từ năm 1882, đầu tiên là một mái lá đơn sơ để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu; đến năm 1903 được trùng tu, xây cất quy mô. Việc thờ tự được xác nhận ở cổng chùa qua câu đối viết bằng chữ Hán chiết tự hai chữ Thiên Hậu: Thiên ân vĩnh tích kiều cư lạc/ Hậu đức trường lưu miếu mạo tôn.
Ngôi miếu qua 3 thế kỷ
Thiên Hậu cung, theo bức hoành viết bằng chữ Hán treo giữa cửa vào chánh điện, có lối kiến trúc tương tự kiến trúc phổ biến ở các ngôi chùa miếu người Hoa, theo mô hình "tứ hợp viện" được bố cục theo hình chữ nhật, lấy trục dọc làm trục đối xứng với quần thể gồm tiền điện, sân thiên tĩnh, hương đình, chánh điện và hai dãy nhà dọc hai bên gọi là đông lang và tây lang. Vật liệu trong gian chánh điện hầu hết làm bằng gỗ quý, chạm trổ tinh vi sắc sảo.
Theo lời của các vị trong Ban trị sự, ngôi miếu này ngày xưa gọi là miếu Bà Mã Châu. Miếu được xây dựng từ năm 1882, đầu tiên là một mái lá đơn sơ để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu; đến năm 1903 được trùng tu, xây cất quy mô. Việc thờ tự được xác nhận ở cổng chùa qua câu đối viết bằng chữ Hán chiết tự hai chữ Thiên Hậu: Thiên ân vĩnh tích kiều cư lạc/ Hậu đức trường lưu miếu mạo tôn.
Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Tri huyện 'Thần Minh nhứt xứ'
Nằm một dải trên đường Nguyễn Thiện Năng (P.An Xuyên, Cà Mau), ngoài đình Tân Xuyên, chùa Phật Tổ, miếu Ngũ Hành, còn có miếu Ông Thần Minh. Đây là ngôi miếu thờ vị quan huyện thanh liêm, hết lòng vì dân.
Trấn áp vụ trộm nổi loạn
Vào thời vua Minh Mạng, đất Cà Mau thuộc H.Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên, có quan Tri huyện tên là Nguyễn Văn Năng, người đời sau gọi là Nguyễn Thiện Năng (có tài liệu chép là Nguyễn Hiền Năng) được người dân kính trọng, tôn thờ là "Ông Thần Minh".
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) người Thanh (tức Hoa kiều) ở phố Lạc Dục, H.Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên là Lâm Đại Mạnh, Lâm Nhĩ, Trịnh Đại Nô tự xưng là nhất ca, nhị ca, tam ca, tụ họp đến vài trăm quân giết viên Tri huyện Nguyễn Văn Năng cùng với vợ con và môn thuộc đến 12 người. Cùng lúc, người Thanh ở phố Lạc Tân là Trịnh Thần Thông và Trần Biện tự xưng là chánh phó thống binh, cùng với bọn Lâm Đại Mạnh kết làm bè đảng, cướp bóc dân lành.
Trấn áp vụ trộm nổi loạn
Vào thời vua Minh Mạng, đất Cà Mau thuộc H.Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên, có quan Tri huyện tên là Nguyễn Văn Năng, người đời sau gọi là Nguyễn Thiện Năng (có tài liệu chép là Nguyễn Hiền Năng) được người dân kính trọng, tôn thờ là "Ông Thần Minh".
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) người Thanh (tức Hoa kiều) ở phố Lạc Dục, H.Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên là Lâm Đại Mạnh, Lâm Nhĩ, Trịnh Đại Nô tự xưng là nhất ca, nhị ca, tam ca, tụ họp đến vài trăm quân giết viên Tri huyện Nguyễn Văn Năng cùng với vợ con và môn thuộc đến 12 người. Cùng lúc, người Thanh ở phố Lạc Tân là Trịnh Thần Thông và Trần Biện tự xưng là chánh phó thống binh, cùng với bọn Lâm Đại Mạnh kết làm bè đảng, cướp bóc dân lành.
Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Chuyện xưa ở Âm Dương thần miếu
Âm Dương thần miếu là một trong những di tích xưa, tương truyền có từ thời vua Gia Long mới lên ngôi. Tuy nhiên, hiện nay các hiện vật liên quan đến ngôi miếu không còn nên rất khó truy nguyên nguồn gốc.
Dấu tích ngôi miếu xưa
Ngôi miếu có diện tích khá khiêm tốn, tọa lạc trên đường Quang Trung, P.Tân Thành, Cà Mau, với nhiều tên gọi khác nhau, như: miếu Gia Long, miếu Quốc Công và Âm Dương thần. Bà Châu Kim Yến, người lo việc thắp hương, quét dọn, cho biết hồi xưa ngôi miếu nằm trong khuôn viên Trường tiểu học Quang Trung bên cạnh. Khi xây trường học, miếu được dời ra chỗ hiện nay.
Ở trước miếu có tấm biển đề Âm Dương thần. Bài vị trên bàn thờ chính cũng ghi Đại Nam Âm Dương Vị Tôn Thần. Hai bên cửa ra vào có câu đối viết bằng chữ quốc ngữ: "Một thuở thân đền non nước Việt/Ngàn thu danh rạng đất trời Nam". Bên trong có bàn thờ Tả ban, Hữu ban và bàn thờ Tiền hiền tương tự nghi thức thờ cúng ở các đình làng.
Dấu tích ngôi miếu xưa
Ngôi miếu có diện tích khá khiêm tốn, tọa lạc trên đường Quang Trung, P.Tân Thành, Cà Mau, với nhiều tên gọi khác nhau, như: miếu Gia Long, miếu Quốc Công và Âm Dương thần. Bà Châu Kim Yến, người lo việc thắp hương, quét dọn, cho biết hồi xưa ngôi miếu nằm trong khuôn viên Trường tiểu học Quang Trung bên cạnh. Khi xây trường học, miếu được dời ra chỗ hiện nay.
Ở trước miếu có tấm biển đề Âm Dương thần. Bài vị trên bàn thờ chính cũng ghi Đại Nam Âm Dương Vị Tôn Thần. Hai bên cửa ra vào có câu đối viết bằng chữ quốc ngữ: "Một thuở thân đền non nước Việt/Ngàn thu danh rạng đất trời Nam". Bên trong có bàn thờ Tả ban, Hữu ban và bàn thờ Tiền hiền tương tự nghi thức thờ cúng ở các đình làng.
Chuyện xưa tích cũ xứ Cà Mau: Cổ tích ngã ba sông Giồng Kè
Ngã ba sông Giồng Kè là khu vực giáp ranh giữa P. An Xuyên với 2 xã Tân Lộc và Hồ Thị Kỷ, tỉnh Cà Mau. Ở đây có cơ sở thờ tự nổi tiếng là đình Tân Lộc và miếu thờ liệt nữ Nguyễn Thị Nương. Đặc biệt là khu mộ Bà Đệ huyền thoại, người dân địa phương đã lấy tên bà đặt cho địa danh xóm Bà Đệ và ngã ba sông Bà Đệ.
Bà mụ đỡ đẻ cho… cọp
Tọa lạc trên phần đất hơn 4.000 m² thuộc ấp 4, xã Tân Lộc, cổng chính đình Tân Lộc hướng ra sông Giồng Kè (còn gọi là kinh xáng Bạch Ngưu). Ông Hồ Thành Sơn, Trưởng ban trị sự, kể lại: "Tôi năm nay 82 tuổi và đã gắn bó với ngôi đình này từ năm 14 tuổi. Thuở nhỏ, tôi làm học trò lễ trong các dịp cúng đình. Ngôi đình xưa ở khu vực cầu số 5, cách ngôi đình hiện tại khoảng 5 km. Thời chiến tranh, đình bị lính Tây đốt chỉ còn cái nền. Năm 1992, người dân xin cất lại, nhưng nền đất cũ đã xây trường học rồi nên phải dời tới đây". Theo sắc thần được vua Tự Đức sắc phong ngày 2.11.1852, đình Tân Lộc xưa có tên là đình làng Tân Mỹ, chưa rõ Tân Mỹ đổi thành làng Tân Lộc từ năm nào.
Bà mụ đỡ đẻ cho… cọp
Tọa lạc trên phần đất hơn 4.000 m² thuộc ấp 4, xã Tân Lộc, cổng chính đình Tân Lộc hướng ra sông Giồng Kè (còn gọi là kinh xáng Bạch Ngưu). Ông Hồ Thành Sơn, Trưởng ban trị sự, kể lại: "Tôi năm nay 82 tuổi và đã gắn bó với ngôi đình này từ năm 14 tuổi. Thuở nhỏ, tôi làm học trò lễ trong các dịp cúng đình. Ngôi đình xưa ở khu vực cầu số 5, cách ngôi đình hiện tại khoảng 5 km. Thời chiến tranh, đình bị lính Tây đốt chỉ còn cái nền. Năm 1992, người dân xin cất lại, nhưng nền đất cũ đã xây trường học rồi nên phải dời tới đây". Theo sắc thần được vua Tự Đức sắc phong ngày 2.11.1852, đình Tân Lộc xưa có tên là đình làng Tân Mỹ, chưa rõ Tân Mỹ đổi thành làng Tân Lộc từ năm nào.
21 thg 1, 2026
Chùa Gò Kén - Tây Ninh
Tui biết chùa Gò Kén đã lâu, trong ký ức của tui đây là ngôi chùa ở hơi xa trung tâm thị xã Tây Ninh và không có gì nổi bật. Vì vậy, gần đây thấy hầu hết các tour du lịch Tây Ninh đều có mục tham quan chùa Gò Kén thì tui nghĩ bụng chắc tại Tây Ninh không có điểm tham quan hấp dẫn nào ngoài núi Bà Đen và Tòa Thánh Cao Đài nên người tổ chức mới điền thêm chùa Gò Kén vô cho nó... kín tour, chớ ở đây đâu có gì đặc sắc.
Ngắm thác nước hùng vĩ ẩn mình giữa rừng Quảng Ngãi
Cách trung tâm thị trấn Măng Đen khoảng 50 km, thác Hùng Ngàn ẩn mình giữa rừng xanh trở thành điểm trekking lý tưởng.
Về Hưng Yên thăm chùa Phượng Vũ hơn 900 tuổi
Quần thể Đền - chùa Phượng Vũ được xây dựng từ thời nhà Lý, gắn với Quốc sư Từ Đạo Hạnh, Vua Lý Thần Tông.
Quần thể di tích lịch sử văn hóa Đền - chùa Phượng Vũ (hay còn gọi là chùa Múa) tọa lạc ở xã Vũ Thư, tỉnh Hưng Yên; được xây dựng từ đời nhà Lý, cách nay hơn 900 năm. Nơi đây tôn thờ đức Đệ Tam Thánh Tổ Lý triều Quốc sư Từ Đạo Hạnh và Vua Lý Thần Tông - người đã có công giúp dân trồng lúa, trồng dâu, cơi đê gieo hạt, đắp đê trị thủy, trừ đạo ôn hại lúa và chữa bệnh cứu người...
Không gian yên bình ở chùa Phượng Vũ, Hưng Yên. Ảnh: Lương Hà
Quần thể di tích lịch sử văn hóa Đền - chùa Phượng Vũ (hay còn gọi là chùa Múa) tọa lạc ở xã Vũ Thư, tỉnh Hưng Yên; được xây dựng từ đời nhà Lý, cách nay hơn 900 năm. Nơi đây tôn thờ đức Đệ Tam Thánh Tổ Lý triều Quốc sư Từ Đạo Hạnh và Vua Lý Thần Tông - người đã có công giúp dân trồng lúa, trồng dâu, cơi đê gieo hạt, đắp đê trị thủy, trừ đạo ôn hại lúa và chữa bệnh cứu người...
Lễ hội hoa lê Hồng Thái - điểm hẹn mùa Xuân vùng cao Tuyên Quang
Lễ hội hoa lê Hồng Thái không chỉ tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên độc đáo, mà còn mở ra không gian trải nghiệm văn hóa du lịch đặc sắc, trở thành điểm hẹn mùa Xuân hấp dẫn của vùng cao Na Hang.
Mỗi độ Xuân về, xã Hồng Thái lại bước vào mùa đẹp nhất trong năm. Đó là mùa hoa lê nở, mùa của sắc trắng tinh khôi phủ khắp núi rừng, khiến vùng cao nơi đây như hóa thành một miền cổ tích giữa đại ngàn Tuyên Quang. Lễ hội hoa lê Hồng Thái không chỉ tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên độc đáo, mà còn mở ra không gian trải nghiệm văn hóa du lịch đặc sắc, trở thành điểm hẹn mùa Xuân hấp dẫn của vùng cao Na Hang.
Mỗi độ Xuân về, xã Hồng Thái lại bước vào mùa đẹp nhất trong năm. Đó là mùa hoa lê nở, mùa của sắc trắng tinh khôi phủ khắp núi rừng, khiến vùng cao nơi đây như hóa thành một miền cổ tích giữa đại ngàn Tuyên Quang. Lễ hội hoa lê Hồng Thái không chỉ tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên độc đáo, mà còn mở ra không gian trải nghiệm văn hóa du lịch đặc sắc, trở thành điểm hẹn mùa Xuân hấp dẫn của vùng cao Na Hang.
20 thg 1, 2026
Mộc Steak & Pasta: "Trạm sạc" năng lượng ngọt ngào giữa lòng Hà Nội
Giữa nhịp sống hối hả của Hà Nội, đôi khi tất cả những gì chúng ta cần là một góc nhỏ yên bình, nơi tiếng xèo xèo của miếng bò trên đá nóng có thể thay thế cho tiếng còi xe ồn ã. Mộc Steak & Pasta là một điểm hẹn đầy cảm hứng cho những tâm hồn yêu ẩm thực Âu tinh tế.
Nằm tại số 36 ngõ 12 Núi Trúc (phường Giảng Võ), Mộc Steak & Pasta mang đến một không gian gần gũi đúng như cái tên của mình. Không quá xa hoa, cầu kỳ, quán đón khách bằng sự chân thành từ không gian ấm cúng, ánh đèn vàng dịu nhẹ cho đến cách bài trí bàn ghế gỗ mộc mạc. Đây là điểm đến lý tưởng cho những buổi tối hẹn hò lãng mạn, những bữa trưa nhanh gọn nhưng vẫn đủ chất cho dân văn phòng, hay đơn giản là nơi để các gia đình nhỏ tại khu vực phường Giảng Võ, Ngọc Hà (Ba Đình cũ) sum vầy mỗi dịp cuối tuần.
Nằm tại số 36 ngõ 12 Núi Trúc (phường Giảng Võ), Mộc Steak & Pasta mang đến một không gian gần gũi đúng như cái tên của mình. Không quá xa hoa, cầu kỳ, quán đón khách bằng sự chân thành từ không gian ấm cúng, ánh đèn vàng dịu nhẹ cho đến cách bài trí bàn ghế gỗ mộc mạc. Đây là điểm đến lý tưởng cho những buổi tối hẹn hò lãng mạn, những bữa trưa nhanh gọn nhưng vẫn đủ chất cho dân văn phòng, hay đơn giản là nơi để các gia đình nhỏ tại khu vực phường Giảng Võ, Ngọc Hà (Ba Đình cũ) sum vầy mỗi dịp cuối tuần.
An Giang: Phát huy các giá trị di sản văn hóa, phát triển kinh tế di sản
Tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.
Là địa phương nằm ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc, có 29 dân tộc cùng sinh sống, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.
Để phát triển kinh tế di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa, những năm qua, tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.
Là địa phương nằm ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc, có 29 dân tộc cùng sinh sống, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.
Để phát triển kinh tế di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa, những năm qua, tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.
Bánh cuốn Cao Bằng
Đặt chân đến thành phố Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng) dọc đường người ta có thể bắt gặp rất nhiều quán treo biển hiệu “bánh cuốn Cao Bằng” trông khá mộc mạc và giản dị. Đây vốn là món ăn dân dã của người dân nơi đây nhưng bánh cuốn lại trở thành đặc sản của mảnh đất Cao Bằng khiến du khách khi đặt chân đây đều muốn thưởng thức.
Được làm từ gạo, bánh cuốn Cao Bằng có hương vị dẻo, thơm giữ nguyên hương vị hạt gạo vùng cao. Để làm ra món này, gạo dẻo hoặc khô đều không tạo ra được bột bánh ưng ý. Gạo được ngâm và vo sạch rồi nghiền thành bột loãng để tráng bánh. Bột ngon là bột đáp ứng được độ sánh, dẻo. Bánh thường được tráng khi khách vào quán gọi, chủ quán mới bắt đầu nhanh tay tráng bột trên khuôn và cuốn bánh với vỏ bánh dày dặn, bên trong là ăm ắp nhân thịt trộn lẫn với mộc nhĩ.
Được làm từ gạo, bánh cuốn Cao Bằng có hương vị dẻo, thơm giữ nguyên hương vị hạt gạo vùng cao. Để làm ra món này, gạo dẻo hoặc khô đều không tạo ra được bột bánh ưng ý. Gạo được ngâm và vo sạch rồi nghiền thành bột loãng để tráng bánh. Bột ngon là bột đáp ứng được độ sánh, dẻo. Bánh thường được tráng khi khách vào quán gọi, chủ quán mới bắt đầu nhanh tay tráng bột trên khuôn và cuốn bánh với vỏ bánh dày dặn, bên trong là ăm ắp nhân thịt trộn lẫn với mộc nhĩ.
Hồ nước vùng cao
Những hồ nước vùng cao rộng lớn nằm dưới chân các ngọn núi cung cấp nước tưới tiêu cho người dân và phòng cháy, chữa cháy rừng hiệu quả. Hiện nay, các hồ nước này được xây dựng kiên cố, là địa chỉ du lịch hấp dẫn.
Tích nước từ mạch nước trên núi
Nằm dưới chân núi Cô Tô, hồ Soài So, xã Tri Tôn có diện tích khoảng 5 ha, với sức chứa khoảng 400.000 m³ nước. Mùa mưa, từng giọt nước nhỏ róc rách len lỏi qua các khe đá rồi tích tụ thành dòng suối Vàng mát lành chảy xuống hồ Soài So. Qua vài đám mưa già, hồ Soài So sẽ hứng đầy ắp nước. Nguồn nước phong phú, mặt hồ phẳng lặng như gương, nên thơ và hữu tình.
Tích nước từ mạch nước trên núi
Nằm dưới chân núi Cô Tô, hồ Soài So, xã Tri Tôn có diện tích khoảng 5 ha, với sức chứa khoảng 400.000 m³ nước. Mùa mưa, từng giọt nước nhỏ róc rách len lỏi qua các khe đá rồi tích tụ thành dòng suối Vàng mát lành chảy xuống hồ Soài So. Qua vài đám mưa già, hồ Soài So sẽ hứng đầy ắp nước. Nguồn nước phong phú, mặt hồ phẳng lặng như gương, nên thơ và hữu tình.
19 thg 1, 2026
Chợ đêm Phú Quốc đông nghịt khách quốc tế trước ngày dừng hoạt động
Khách quốc tế chen chân tham quan, mua sắm, trải nghiệm ẩm thực trong khu chợ kéo dài khoảng 500 m ở trung tâm Dương Đông cũ.
Chợ đêm Bạch Đằng - hay còn gọi chợ đêm Phú Quốc, chợ đêm Dương Đông - đang trong những ngày hoạt động cuối cùng sau 10 năm. Buổi tối, khu chợ luôn chật kín khách - chủ yếu là người nước ngoài - tới ăn uống, mua sắm.
"Ở chợ đêm, biết nói tí tiếng Việt thấy "sang" cả người vì toàn người nói tiếng Anh", nhiếp ảnh gia địa phương Trương Phú Quốc nói vui khi hoà vào dòng người đi chợ tối 11/1.
"Ở chợ đêm, biết nói tí tiếng Việt thấy "sang" cả người vì toàn người nói tiếng Anh", nhiếp ảnh gia địa phương Trương Phú Quốc nói vui khi hoà vào dòng người đi chợ tối 11/1.
Lên điện đá chuông
Phụng Hoàng sơn là ngọn núi cao thứ 2 trong dãy Thất Sơn, chỉ sau núi Cấm, với vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí. Du khách leo đến ngọn núi này nếu không đến điện đá chuông xem như chưa trải nghiệm hết những điều lý thú chốn bồng lai.
Dốc lên khúc khuỷu
Mờ sáng, Phụng Hoàng sơn được bao phủ bởi mây mù lãng đãng. Đến đây, du khách sẽ cảm nhận được khí hậu mát lành, khung cảnh yên bình. Dưới chân núi có hồ Soài So rộng lớn đầy ắp nước, người dân ví nơi đây như tấm gương soi giữa một góc trời. Từ lâu, hồ là địa điểm để du khách ngắm toàn cảnh núi non khá thú vị. Mỗi buổi sáng, bên bờ hồ đều thu hút nhiều bạn trẻ đến check in.
Dốc lên khúc khuỷu
Mờ sáng, Phụng Hoàng sơn được bao phủ bởi mây mù lãng đãng. Đến đây, du khách sẽ cảm nhận được khí hậu mát lành, khung cảnh yên bình. Dưới chân núi có hồ Soài So rộng lớn đầy ắp nước, người dân ví nơi đây như tấm gương soi giữa một góc trời. Từ lâu, hồ là địa điểm để du khách ngắm toàn cảnh núi non khá thú vị. Mỗi buổi sáng, bên bờ hồ đều thu hút nhiều bạn trẻ đến check in.
Ngôi nhà Bá Kiến – Chứng tích của thời phong kiến Việt Nam
Ngôi nhà Bá Kiến ở xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình (xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam cũ) được xem như là một chứng tích của thời phong kiến Việt Nam.
Ngôi nhà có kiến trúc cổ, bộ khung bằng gỗ lim với ba gian rộng. Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà vẫn giữ được tương đối nguyên vẹn và trở thành điểm du lịch thu hút du khách đến tham quan, tìm hiểu về cuộc sống cường hào, địa chủ thời phong kiến.
Ngôi nhà có kiến trúc cổ, bộ khung bằng gỗ lim với ba gian rộng. Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà vẫn giữ được tương đối nguyên vẹn và trở thành điểm du lịch thu hút du khách đến tham quan, tìm hiểu về cuộc sống cường hào, địa chủ thời phong kiến.
"Viên ngọc xanh" Cồn Cỏ phát triển du lịch bền vững
Với vẻ đẹp nguyên sơ, độc đáo, hệ sinh thái đa dạng cùng bề dày văn hóa, lịch sử cách mạng, Đặc khu Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị, đang từng bước khai thác tài nguyên, lợi thế để quyết tâm đưa du lịch, dịch vụ trở thành mũi nhọn phát triển kinh tế.
"Viên ngọc xanh" đang chuyển mình
Đặc khu Cồn Cỏ có diện tích 2,3 km², cách bãi biển Cửa Việt, xã Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị khoảng 13 - 15 hải lý. Cồn Cỏ nằm án ngữ cửa ngõ phía Nam vịnh Bắc bộ nên được ví như “vọng gác tiền tiêu”. Đặc khu Cồn Cỏ ngày càng “thay da đổi thịt”, nhờ thực hiện chủ trương xây dựng đảo “mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng, an ninh”.
Ngược dòng thời gian, năm 2004, huyện đảo Cồn Cỏ (nay là Đặc khu Cồn Cỏ), được thành lập theo quyết định của Chính phủ với định hướng xây dựng thành đảo du lịch. Cơ cấu phát triển kinh tế của đảo là du lịch, dịch vụ, thủy sản và lâm nông nghiệp. Đây là cột mốc để Cồn Cỏ chuyển mình từ đảo quân sự sang đảo dân sự.
"Viên ngọc xanh" đang chuyển mình
Đặc khu Cồn Cỏ có diện tích 2,3 km², cách bãi biển Cửa Việt, xã Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị khoảng 13 - 15 hải lý. Cồn Cỏ nằm án ngữ cửa ngõ phía Nam vịnh Bắc bộ nên được ví như “vọng gác tiền tiêu”. Đặc khu Cồn Cỏ ngày càng “thay da đổi thịt”, nhờ thực hiện chủ trương xây dựng đảo “mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng, an ninh”.
Ngược dòng thời gian, năm 2004, huyện đảo Cồn Cỏ (nay là Đặc khu Cồn Cỏ), được thành lập theo quyết định của Chính phủ với định hướng xây dựng thành đảo du lịch. Cơ cấu phát triển kinh tế của đảo là du lịch, dịch vụ, thủy sản và lâm nông nghiệp. Đây là cột mốc để Cồn Cỏ chuyển mình từ đảo quân sự sang đảo dân sự.














































.jpg)

